so sánh nền văn minh phương đông và phương tây

So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về nghệ thuật. Bên cạnh các thành tựu khác như văn học, toán học, vật lý, y học, . ko thể ko kể. đến nghệ thuật Kiến trúc và điêu khắc của văn minh phương tây và phương đông. cổ đại Nói đến nghệ thuật là nói tới cái đẹp. Ben Shapiro tiếp tục: "Nền văn minh phương Tây — và chỉ có chính nó — mới có thể tìm ra được cách để cân bằng giữa tín ngưỡng và lý tính. Đây là cách để đạt được sự cân bằng: Ki-tô hữu Do Thái sẽ dạy rằng Thượng Đế tạo ra 1 vũ trụ có trật tự và chúng Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Do sự hình thành và kiến tạo các mảng đất mà thế giới hình thành nên 2 lục địa chính thuở sơ khai có người sinh sống đó chính là Châu Âu và Châu Á. Những phần lục địa còn lại thường là nơi ở của nhiều bộ lạc, dân tộc thiểu số… và chỉ được biết đến từ sau thế kỉ thứ 10 khi được các nhà thám hiểm phát hiện ra. Chính vì điều này mà thế giới dần hình thành nên 2 luồng văn hóa chính là phương Đông và phương Tây. Có gì khác biệt giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, mời bạn tìm hiểu dung chính Show 1. Văn hóa phương Đông2. Văn hóa phương Tây3. Sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và phương TâyTìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương ĐôngLoại hình chữ viết nào ra đời sớm nhất ở các quốc gia cổ đại phương Đông?Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương TâySo sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tâyVideo liên quan 1. Văn hóa phương Đông Văn hóa phương Đông được hình thành từ rất sớm và có thể coi là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Từ những tộc người sinh sống tại đây, họ di cư đến những nơi khác nhau và dần hình thành nên các quốc gia riêng biệt, trong đó bao gồm các nền văn minh là nền văn minnh Trung Hoa, văn minh Ai Cập, văn minh Ấn Độ và văn minh Lưỡng Hà. Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh lâu đời và phức tạp nhất trên thế giới, đại diện cho văn hóa nước Trung Quốc cho đến ngày nay cũng như là có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa phương Đông nói chung, bao gồm cả Việt Nam. Văn minh Lưỡng Hà nằm ở phía Tây châu lục bao gồm các nền văn minh người Sumer và Akkad, văn minh cổ Babylon, văn minh cổ Assyria – Tân Babylon, văn minh Phoenicia – Palestine, văn minh Israel và Judah cổ xưa. Văn minh Ai Cập chính là nền tảng của đất nước Ai Cập ngày nay, nhưng đã được phân tách thành Châu Phi. Tương tự với văn minh Ấn Độ chính là nền tảng văn hóa của Ấn Độ ngày nay. Nếu văn hóa Trung Hoa hình thành nên những đặc điểm lễ nghi, lối sống, tư tưởng, đạo lý con người riêng biệt, trở thành thước đo cho nền văn hóa phương Đông về sau. Thì văn hóa Lưỡng Hà lại bị ảnh hưởng bởi văn minh phương Tây, nền văn hóa Cethic, Anglo Saxon mạnh mẽ, song vẫn học hỏi, tiếp thu những tư tưởng, tín ngưỡng và đạo lý từ phương Đông. 2. Văn hóa phương Tây Nền văn minh phương Tây hình thành từ đầu thiên niên kỉ I TCN ở các khu vực ven biển Địa Trung Hải, đất đai khá cằn cỗi nhưng rất đa dạng về khoáng sản. Tộc người Anglo Saxon chính là nhân tố đầu tiên để hình thàn nên người da trắng về sau. Văn hóa phương Tây thay đổi qua nhiều giai đoạn thời gian như là Phục Hưng, Cải cách kháng cách, Thời kỳ khai sáng và được lan rộng vào thời kỳ chủ nghĩa thực dân. 3. Sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và phương Tây Những đặc trưng của 2 nền văn hóa này có thể được khắc họa rõ nét giữa những đặc điểm khác biệt sau đây – Văn hóa phương Tây dạy người ta các sống tự lập, phân tác trong khi người phương Đông hướng đến việc dựa vào nhau để tạo nên thể đoàn kết. – Tại phương Tây mọi người đều bình đẳng, không phân biệt địa vị, giai cấp. Trong khi tại phương Đông, tư tưởng có quyền lực, địa vị là ở trên tất cả vẫn tồn tại đến ngày nay. – Trong giao tiếp, người phương Tây thích đi thẳng vào vấn đề, nói đúng trọng tâm và thẳng thắn trong suy nghĩ. Người phương Đông tế nhị, thích nói vòng vo, nói tránh nói giảm để không làm mất lòng người khác. – Cái tôi của người phương Tây rất lớn, văn hóa phương Đông luôn đề cao tính khiêm nhường, thu nhỏ bản thân để thích ứng với xã hội. – Khi thể hiện bản thân, văn hóa phương Tây luôn tự tin, mạnh mẽ và đứng lên nói điều mình muốn trong khi người phương Đông thường né tránh, thể hiện bản thân một cách khiêm nhường. – Mọi thứ tại phương Tây đều được đơn giản hóa, họ ăn uống đơn giản để tiết kiệm thời gian, các mối quan hệ rành mạch, rõ ràng, thể hiện rõ cảm xúc của bản thân và nói lên điều mình muốn. Người phương Đông thường né tránh bộc lộ cảm xúc, không thể hiện quá nhiều quan điểm cá nhân, thường có khá nhiều mối quan hệ phức tạp. – Văn hóa phương Đông đề cao tính tự do, dân chủ, không cần phải quá đặt nặng tiêu chí kính trên nhường dưới, ngôi xưng tương đồng, thái độ lịch sự như nhau đều được. Văn hóa phương Đông đặt nặng tính lễ nghi, tín ngưỡng và đạo lý, phảo biết tôn trọng người lớn tuổi, người có địa vị. – Văn hóa phương Tây tôn trọng luật lệ, biết tuân thủ quy định, xếp hàng khi mua sắm. Văn hóa phương Đông bất quy tắc, không biết xếp hàng, ít khi tuân thủ nội quy. – Văn hóa ẩm thực phương Tây đơn giản, khá nhàm chán và không tốt cho sức khỏe. Văn hóa ẩm thực phương Đông đa dạng, nhiều nguyên liệu, hương vị và cách thức chế biến. – Văn hóa phương Tây đề cao vẻ đẹp khỏe khắn, rám nắng, khiêu gợi, văn hóa phương Đông tôn trọng phụ nữ có nhân phẩm, biết ý tư nơi công cộng, da trắng, môi đỏ, tóc đen, nét đẹp dịu dàng, tinh tế. – Người phương Tây luôn tôn trọng giờ giấc, đả bảo đúng giờ hẹn. Người phương Đông thường trễ giờ. Với những khác biệt trong văn hóa phương Đông và phương Tây đã kể trên, ta đã phần nào khác họa được những đặc điểm của 2 nền văn minh lớn nhất trong nhân loại. Còn rất nhiều điều cho bạn khám phá, cùng tìm hiểu thêm để có được những kiến thức cho bản thân nhé. Theo tổng hợp Kể đến lịch sử phát triển của nhân loại thì không thể không kể đến sự hình thành và phát triển của hai nền quốc gia, đó là các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đại Phương vậy với nội dung bài viết dưới đây hãy cùng chúng tôi đi tìm hiểu về sự khác biệt giữa các quốc gia này thông qua việc So sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương hiểu về các quốc gia cổ đại phương ĐôngCác quốc gia cổ đại phương Đông ra đời vào khoảng thế kỉ IV-III TCN, tồn tạ nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy trước đó, với trình độ sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ như đá, đồng… Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông thì đều thấy có chung một điểm đó là các quốc gia này đều hình thành bên các lưu vực sông lớn, ví dụ như– Ai Cập hình thành bên lưu vực sông Nin;– Ấn Độ hình thành bên lưu vực sông Hằng, sông Ấn;– Trung Quốc hình thành bên lưu vực sông Hoàng Hà, sông Trường GiangChính vì sự thuận lợi này mà hầu hết các quốc gia cổ đại phương Đồng đều tập trung phát triển nông nghiệp, chăn quá trình hình thành nhà nước được bắt đầu từ quá trình liên kết thị tộc, liên minh bộ lạc xuất phát từ nhu cầu của việc trị thủy, tuy nhiên vẫn bảo lưu dai dẳng những tàn dư của xã hội nguyên thủy. Do vậy mà các quốc gia cổ đại Phương Đông là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, mọi quyền lực đều được tập trung vào tay người đứng đầu đất nước là vui, là người sở hữu quyền lực tối cao, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và chỉ huy quân hội của các quốc gia cổ đại Phương Đông được chia thành 3 tầng lớp chính đó là– Tầng lớp quý tộc, gồm có quý tộc tăng lữ và quý tộc quan lại– Tầng lớp nông dân công xã chiếm trên 90% dân cư trong xã hội, đây được xác định là lực lượng sản xuất chính;– Tầng lớp nô lệ, phục vụ trong các cung điện và quan lại giàu có, là tầng lớp thấp kém nhất trong xã quá trình phát triển kinh tế thì các quốc gia cổ đại phương Đông tập trung phát triển chính là nông nghiệp, như thủ công nghiệp, chăn nuôi theo hình thức tự cung tự cấp. Việc này cũng nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, lưu vực các dong sông lớn đem lại phù sa màu hình chữ viết nào ra đời sớm nhất ở các quốc gia cổ đại phương Đông?Sự ra đời của chữ viết là một trong những thành tựu nổi bật về văn hóa các quốc gia cổ đại phương Đông, bên cạnh thành tựu về lịch pháp thiên văn học, kiến trúc,…Chữ viết ra đời do nhu cầu ghi chép và lưu trữ thông tin. Vào khoảng thiên niên kỉ IV TCN, chữ viết đã xuất hiện ở Ai Cập và Lưỡng đầu là chữ tượng hình hình vẽ những gì mà họ muốn nói, sau đó họ sáng tạo thêm những kí hiệu biểu hiện khái niệm trừu tượng. Sau này, người ta cách điệu hoá chữ tượng hình thành nét và ghép các nét theo quy ước để phản ánh ý nghĩ của con người một cách phong phú hơn gọi là chữ tượng ý. Chữ tượng ý chưa tách khỏi chữ tượng hình mà thường được ghép với một thanh để phản ánh tiếng nói, tiếng gọi có âm sắc, thanh điệu của con Ai Cập viết trên giấy làm bằng vỏ cây papirút. Người Su-me ở Lưỡng Hà dùng một loại cây sậy vót nhọn làm bút viết lên trên những tấm đất sét còn ướt rồi đem phơi nắng hoặc nung khô. Người Trung Quốc lúc đầu khắc chữ trên xương thú hoặc mai rùa, về sau họ đã biết kết hợp một số nét thành chữ và viết trên thẻ tre hay trên hiểu về các quốc gia cổ đại phương TâyKhác với các quốc gia cổ đại phương Đông, các quốc gia cổ đại phương Tây có sự ra đời khá là muộn vào thế kỉ I TCN, hình thành dựa trên cơ sở trình độ sản xuất cao với cong cụ chủ yếu là quốc gia cổ đại phương Tây được hình thành chủ yếu ở khu vực vùng ven biển địa Trung hải, điều kiện đất đai khô cằn và rất khó cho hoạt động canh tác, phát triển nông nghiệp, nhưng lại thuận lợi cho quá trình phát triển hải cảng, thương thể chế chính trị thì các quốc gia cổ đại phương Tây xây dựng theo nền dân chủ chủ nô hoặc công hòa quý tộc, đế chế. Xã hội chia ra làm 2 giai cấp chính đó là– Chủ nô, đây là những chủ xưởng, chủ buồn giàu có…nắm giữ nhiều của cải nên rất giàu có, cuộc sống sung túc và nắm trong tay nhiều quyền lực, họ bóc lột nô lệ rất nặng nề và sở hữu nhiều nô lệ– Nô lệ, đây cũng là thành phần chiếm số đông trong xã hội, là lực lượng lao động chính nhưng lại không được hưởng bất cứ quyền lợi nào, chịu sự bóc lột nặng nề của chủ nô, hay còn được gọi là vật sở hữu của chủ nôVề kinh tế thì do địa hình tư nhiên không mấy thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp nên chỉ tập trung vào phát triển thủ công nghiệp và thương giải đáp cho Qúy khách về các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây. Với nội dung tiếp theo của bài viết, chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp thêm cho Qúy khách về So sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tâySo sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây – Do hình thành trên lưu vực các con sông lớn nên các quốc gia này có điều kiện đồng bằng phù sa màu mỡ, tơi xốp, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp – Nguồn nước vô cùng dồi dào, tạo điều kiện quan trọng trong việc cung cấp nước cho hoạt động sản xuất và nước dùng trong sinh hoạt, đồng thời cung cấp nước cho nguồn thủy sản, và đây cũng là đường giao thông quan trọng của đất nước – Có đường bờ biển kéo dài, nhiều vũng vịnh sâu và kín gió, thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường biển. – Đất đai thích hợp để trồng các loại cây như nho, ôliu Nền kinh tế nông nghiệp được chú trọng và rất phát triển , đồng thời gắn liền với công tác thủy lợi – Nền kinh tế công thương, mậu dịch hàng hải phát triển, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. – Ngành nông nghiệp chỉ được xác định là thứ yếu Chế độ chuyên chế cổ đại hay nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Bộ máy nhà nước 100% là quý tộc, đất nước mang tính dân chủ chủ nô hay cộng hòa quý tộc Xã hội tồn tại hai giai cấp chính là – Giai cấp thống trị, gồm vua, quý tộc, quan lại – Giai cấp bị trị, là nông dân, nô lệ, thợ thủ công… Có hai giai cấp cơ bản và luôn tồn tại mối quan hệ đối kháng nhau là Chủ nô và nô lệ – Sáng tạo ra nông lịch; – Chữ viết tượng hình, tượng ý; – Phát minh và nghiên cứu ra toán học số pi, diện tích hình tròn… – Kiến trúc nổi trội Kim tự tháp Ai Cập, thành Babilon Lưỡng Hà… – Sáng tạo ra lịch; – Hệ chữ cái Latinh; – Số La Mã; – Toán học với các định lý Pitago, Ta lét… – Nghệ thuật Tượng nữ thần Atena, đấu trường Roma… Với nội dung bài viết phía trên, chúng tôi đã giải thích cho Quý khách về So sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây. Nếu còn gì thắc mắc về vấn đề này thì Qúy khách hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ trực tiếp. Một số nét tiêu biểu của văn hóa cổ đại phương Đông và phương TâyThứ nhất Văn hóa cổ đại phương Đông– Bao gồm các nền văn minh, các phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng của những người chỉ chung châu Á. Chủ yếu các nền văn minh Trung Hoa cổ, Ấn Độ cổ, B Tư cổ, … Đặc trưng về tư tưởng và tập tục, vật chất, hội họa, kiến trúc, tôn giáo. Đã hội tụ được nhiều nguồn tạo thành một Thế giới của người Phương Đông. Chủ yếu những nét cổ xưa truyền lại hay đã mất trong dòng lịch sử dài của Á dung chính Show Một số nét tiêu biểu của văn hóa cổ đại phương Đông và phương TâyThứ nhất Văn hóa cổ đại phương ĐôngThứ hai Văn hóa cổ đại phương TâyTìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương ĐôngSo sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương gian ra đời2. Quá trình hình thành nhà nước thể chế chính trị3. Về thể chế chính trị4. Cơ cấu xã hội5. Về kinh tếVideo liên quan – Văn hóa huyền bí+ Người phương Đông chú trọng phía trong bản thân, thầm kín chịu dựng những nét này đến mang đậm tính cách của các vùng, địa hình được trải dài phức tạp núi non hiểm trở, khiến những người xưa khó gần nhau về giao tiếp.+ Tôn giáo chủ yếu Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, … pha trộn lẫn nhau đưa ra những tinh túy nhất cho nhân loại. Người phương Tây vẫn con chưa thể khám phá những bí ẩn trên như các nhà sư ngồi thiền để lại nhục thân, hay xá-lị, khi viên tịch hàng trăm năm mà vẫn chưa có thay đổi về thân thể; các bậc chân nhân sống hàng trăm năm trong các hang núi vùng Himalaya.– Cái nôi nền văn minh+ Sự xuất hiện Nhà nước với nhiều lo toan quản lý đời sống, các niềm tin. Việc trao đổi hàng hóa xuất hiện ngày càng nhiều, tạo ra các phong tục cần được trao đổi và bổ sung cho mình.+ Con đường tơ lụa trải dọc từ Đông sang Tây, đi bằng ngựa, lạc đà. Mở rộng buôn bán bằng đường thủy qua nước láng giềng. Những cuộc chiến tranh tranh giành lãnh thổ, gây nên sự mất đi và xuất hiện một Nhà nước mới. Các điều kiện đó đã đủ điều kiện chứng minh cho văn hóa của phương Đông là tinh hoa và phong hai Văn hóa cổ đại phương Tây– Văn hóa phương Tây là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi để chỉ di sản của chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, truyền thống, phong tục, hệ thống niềm tin, chế độ chính trị và tạo tác dụng cụ thể và công nghệ có nguồn gốc hoặc liên kết với châu Âu.– Khái niệm trên cũng được áp dụng ngoài châu Âu cho các quốc gia và nền văn hóa có lịch sử được kết nối mạnh mẽ với châu Âu bằng cách nhập cư, thuộc địa hoặc ảnh hưởng.– Văn hóa phương Tây được đặc trưng bởi một loạt các chủ đề và truyền thống nghệ thuật, triết học, văn học và pháp lý, di sản của nhiều dân tộc châu thể bạn quan tâmGin Tuấn Kiệt và Puka sinh năm bao nhiêuMàu Pantone cho mùa đông 2023 là gì?Ngày lễ hội hóa trang 2023 FribourgEU có bao nhiêu thành viên 2022Ngày thi của Hội đồng quản trị Tây Bengal năm 2023 Lớp 10 Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương ĐôngCác quốc gia cổ đại phương Đông ra đời vào khoảng thế kỉ IV-III TCN, tồn tạ nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy trước đó, với trình độ sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ như đá, đồng… Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông thì đều thấy có chung một điểm đó là các quốc gia này đều hình thành bên các lưu vực sông lớn, ví dụ như– Ai Cập hình thành bên lưu vực sông Nin;– Ấn Độ hình thành bên lưu vực sông Hằng, sông Ấn;– Trung Quốc hình thành bên lưu vực sông Hoàng Hà, sông Trường GiangChính vì sự thuận lợi này mà hầu hết các quốc gia cổ đại phương Đồng đều tập trung phát triển nông nghiệp, chăn quá trình hình thành nhà nước được bắt đầu từ quá trình liên kết thị tộc, liên minh bộ lạc xuất phát từ nhu cầu của việc trị thủy, tuy nhiên vẫn bảo lưu dai dẳng những tàn dư của xã hội nguyên thủy. Do vậy mà các quốc gia cổ đại Phương Đông là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, mọi quyền lực đều được tập trung vào tay người đứng đầu đất nước là vui, là người sở hữu quyền lực tối cao, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và chỉ huy quân hội của các quốc gia cổ đại Phương Đông được chia thành 3 tầng lớp chính đó là– Tầng lớp quý tộc, gồm có quý tộc tăng lữ và quý tộc quan lại– Tầng lớp nông dân công xã chiếm trên 90% dân cư trong xã hội, đây được xác định là lực lượng sản xuất chính;– Tầng lớp nô lệ, phục vụ trong các cung điện và quan lại giàu có, là tầng lớp thấp kém nhất trong xã quá trình phát triển kinh tế thì các quốc gia cổ đại phương Đông tập trung phát triển chính là nông nghiệp, như thủ công nghiệp, chăn nuôi theo hình thức tự cung tự cấp. Việc này cũng nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, lưu vực các dong sông lớn đem lại phù sa màu mỡ. So sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương Tây So sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và Phương Tây về điều kiện tự nhiên Bảng so sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương Tây Điều kiện tự nhiên của phương Đông cổ đại Điều kiện tự nhiên của phương Tây cổ đại – Có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi cho cuộc sống nông nghiệp của con người. Có nhiều đồng bằng ven sông rộng lớn, đất đai phì nhiêu, mềm xốp rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp. – Lượng mưa được phân bổ đều theo mùa nhờ đó mà con người luôn có nguồn nước dồi dào cho trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt. – Hàng năm các vùng đồng bằng ven sống đều được bồi đắp thêm phù sa màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây lương thực – Có điều kiện tự nhiên phù hợp cho nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển. Nơi đây có bờ biển dài và nhiều vũng vịnh sâu, kín gió rất thuận tiện cho giao thông đường biển . – Đất đai không màu mỡ. Thổ nhưỡng nơi đây phù hợp cho việc trồng nho và oliu. – Điều kiện nhiên không thuận lợi để phát triển nông nghiệp, phần lớn lãnh thổ nơi đây là núi và cao nguyên. Nhưng vậy chúng ta có thể thấy điều kiện tự nhiên của phương Đông và phương tây cổ đại có sự khác biệt rõ nét. Điều kiện tự nhiên của phương Đông thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp với những đồng bằng phù sa rộng lớn. Còn điều kiện tự nhiên của phương Tây cổ đại thì phù hợp với công thương nghiệp. gian ra đời- Các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời sớm TNK IV-III TCN , còn nhiều tàn dư của xã hội nguyên độ sản xuất thấp kém công cụ lao động thô sơ đá, đồng.... Địa điểm là bên lưu vực các dòng sông lớn như Hoàng Hà, Trường Giang Trung Quốc, sông Nin Ai Cập... điều kiện tự nhiên thuận lợi đất đai màu mở thuận lợi phát triển nông Các quốc gia cổ đại phương Tây ra đời muộn thế kỉ I TCN, hình thành trên cơ sở trình độ sản xuất cao công cụ bằng Sắt. Địa điểm là vùng ven biển địa Trung Hải, điều kiện đất đai khô cằn và cứng khó canh tác, có nhiều bờ biển khúc khuỷu thuận lợi xây dựng hải càg phát triển thương Quá trình hình thành nhà nước thể chế chính trị- Quá trình hình thành nhà nước là quá trình liên kết thị tộc,liên minh bộ lạc xuất phát từ nhu cầu trị thủy, vẫn bảo lưu dai dẳng những tàn dư của xã hội nguyên Các quốc gia cổ đại phương Tây quá trình hình thành nhà nước là quá trình xóa bỏ hoàn toàn quan hệ thân tộc trông đó quan hệ địa vực và kinh tế được thay Về thể chế chính trị- Các quốc gia cổ đại phương Đông là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, mọi quyền lực tập trung trong tay người đứng đầu nhà nước là vua ,là người có sở hữu tối cao,có quyền lập pháp ,hành pháp, tư pháp , chỉ huy quân đội tối Các quốc gia cổ đại phương Tây là nền dân chủ chủ nô Aten, Cộng hòa quý tộc Rô ma thời cộng hòa, đế Cơ cấu xã hội- Các quốc gia cổ đại phương Đông gồm+ Quý tộc quý tộc quan lại và quý tộc tăng lữ+ Nông dân công xã chiếm trên 90% là lực lượng sản xuất chính trong xã hội.+ Nô tỳ nô lệ phục vụ trong cung vua và các quan lại giàu có, không có vai trò trong việc thịnh suy của nhà nước.=> quan hệ bóc lột dưới dạng tô thuế cống Các quốc gia cổ đại phương Tây gồm + Chủ nô chủ xưởng, chủ thuyền,thuyền buôn giàu có, quan lại, tăng lữ..+ Nô Lệ chiếm số đông trong xã hội là lực lượng lao động chính của xã hội. quyết định tới sự thịnh suy của nhà nước nhưng thân phận họ lệ thuộc vào chủ nô, tất cả những gì nô lệ làm ra đều của chủ nô, chủ có toàn quyền kể cả giết nô lệ.=> Chế đô chiếm hữu nô lệ thuần phục và điển hình , là quan hệ cưỡng bức siêu kinh tế giữa chủ nô và nô Về kinh tế- Các quốc gia cổ đại phương Đông nền tảng kinh tế chính là nông nghiệp+ thủ công nghiệp+ chăn nuôi, tự nhiên tự cung tự cấp. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, lưu vực các dòng sông lớn giàu phù sa, màu mỡ, khí hậu ấm Các quốc gia cổ đại phương Tây thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển là nền tảng của kinh tế + Có Địa Trung Hải là nơi giao thông, giao thương thuận lợi.+ Phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyên.+ Đất canh tác không màu mỡ.+ Kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát đạt.=> văn hóa cổ đại phương tây phát triển hơn văn hóa cổ đại phương đôngThời gian hình thành ra đời muộn hơn các quốc gia cổ đại phương Đông, do đó đã tiếp thu, kế thừa nền văn minh của các quốc gia cổ đại phương điều kiện tự nhiên cầu nối giao lưu giữa các vùng, tiếp xúc với biển đã mở ra cho họ một chân trời mới, họ có điều kiện giao lưu tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trên thế phát triển cao hơn về mặt kinh tế, chính trị xã hội cơ sở kỹ thuật, đồ sắt, kinh tế công thương nghiệp và hàng hải; vai trò của tầng lớp tri thức trong xã chế dân chủ chủ nô tạo điều kiện cho con người tự do phát huy tài năng sáng tạo của mình. Khi nhắc đến 2 cụm từ phương Đông và phương Tây, chúng ta đều đồng ý rằng đây là 2 cụm từ nghe thôi cũng thấy nhiều sự khác nhau từ lịch sử hình thành, nền tảng văn minh, văn hóa, chính trị, ẩm thực, con người, khí hậu…và cả quan điểm về kiến trúc. Trong bài viết sau, hãy cùng đi tìm hiểu sâu hơn về sự khác biệt của hai nền kiến trúc cổ đại phương Đông và phương Tây. Kiến trúc cổ đại phương Tây bên trái và kiến trúc cổ đại phương Đông bên phải Nhắc đến phương Đông, ai cũng sẽ biết đến những nền văn minh như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Ai Cập hay Lưỡng Hà khu vực Iran – Iraq. Đây là những nền văn minh được hình thành trong khoảng niên đại từ cuối thiên niên kỷ IV đến đầu thiên niên kỷ III TCN. Các nền văn minh này hình thành trên các khu vực đồng bằng hoặc khu vực ven biển tại châu Á và châu Phi, nơi có điều kiện thổ nhưỡng màu mỡ. Do hình thành trên điều kiện như vậy nên trong mọi kiến trúc của người phương Đông đều mang những tầng lớp ý nghĩa riêng, đại diện cho văn hóa, tôn giáo, sự phát triển…của nền văn minh đó. Trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, kiến trúc phương Tây cũng tự xoay mình và phát triển với hàng loạt sáng kiến độc đáo và những công trình có giá trị. Các nhà nghiên cứu về kiến trúc nhận định, bất kỳ phong cách nào cũng đều có mối liên hệ với bối cảnh lịch sử thời đại và truyền cảm hứng nghệ thuật cho sau này. Dưới đây là bảng tổng hợp sự khác nhau giữa 2 nền kiến trúc phương Đông và phương Tây. Tiêu chíKiến trúc cổ đại phương ĐôngKiến trúc cổ đại phương TâyÝ nghĩaBiểu tượng cho quá trình hình thành, phát triển vững mạnh của các quốc gia phong kiến phương hiện rõ quyền lực của tầng lớp vua chúa và sức ảnh hưởng đối với các nước trong khu hiện rõ nét văn hóa, tôn giáo trong đời sống nhân chứng cho sức sáng tạo của con người, với nhiều công trình kiến trúc có thiết kế độc đáo, cầu mạnh trong lao động của người phương Đông, có thể xây dựng những công trình có quy mô hùng vĩ vào thời điểm tính tôn giáo cao. Dùng để tôn thờ đồi núi, các tinh tú trên trời và các vị vua…Đặc trưngKhoảng 3500 năm trước Công Nguyên các công trình chủ yếu là các đền đài tôn giáo. Vật liệu xây dựng là gạch và bùn dạng hình lồi. Trong đó, gạch lồi được làm từ đất sét ở vùng Lưỡng Hà, sau đó được nung lên hoặc phơi khô dưới ánh sáng mặt trời. Đa phần các viên gạch đều có hình dạng phẳng phía dưới, phía trên có dạng chỏm cầu. Sau này, đặc trưng chung của các công trình là sự đồ sộ về quy mô, thiết kế theo hình tháp, chóp nhọn. Thiên về những công trình đền thờ hình chữ nhật và hình tròn, hình vòm. Một trong số đó là bộ phận thuộc di chỉ khảo cổ đền Delphi hay đấu trường La Mã. Loại đền có hình tròn được gọi là Tholo. Có vành ngoài gồm những cây cột lớn bao quanh kiến trúc trung tâmMang đậm tính chất tôn giáo, đề cao sức mạnh và tài năng con người. Đặc biệt, phong cách này nhấn mạnh đến tính đối xứng, sự hài hòa của không gian thủ nghiêm ngặt nguyên tắc cổ điển và chuẩn với những đền cổ hình chữ nhật thì có đặc trưng xây dựng bao gồm một lối đi ở chính giữa, kéo dài từ cổng tới điện thờ hoặc tượng thần. Cổng vào nằm ở cạnh ngắn của nền nhà hình chữ nhật. Điểm khác nhau giữa những loại đền thờ này là cách sắp xếp các cây trình tiêu biểuVạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc mang ý nghĩa xác lập lãnh thổ của nhà nước Trung Hoa cổ đại, ngăn chặn các tộc người phương Bắc xâm lược. Bên cạnh đó, việc xây dựng một kiến trúc đồ sộ với chiều dài lên tới km cho thấy quyền lực, sức mạnh của bộ máy cai trị nhà nước khi có thể huy động lượng người lớn tham gia xây dựng. Quần thể Angkor, mà nổi tiếng nhất là đền Angkor Wat – di tích tôn giáo lớn nhất thế giới, giúp cho hàng triệu người dân Campuchia ngày nay hiểu và trân trọng những giá trị tốt đẹp của Ấn Độ giáo, cũng như phong tục thờ phụng các vị thần tại quốc gia viện Paro Taktsang – Bhutan tọa lạc ở một vách đá với độ cao 900 mét phía trên thung lũng Paro khoảng mét so với mực nước biển. Chùa vàng Shwedagon – Nyaung U – Myanmar đã có cách đây năm, trước khi Đức Phật qua trúc Hy Lạp, La Mã cổ đại là những công trình được nhắc đến đầu tiên.. Hai trong những quần thể kiến trúc công cộng phổ biến của Hy Lạp cổ đại là Agora và Acropol. Thông thường, kiến trúc Agora sở hữu dạng hình học nhất định với những hàng cột thức hai tầng bao vây xung quanh, ở giữa công trình là vị trí của bàn thờ và tượng trúc cổ đại phương Tây còn được chia thành những giai đoạn với những công trình tiêu biểu như Loại thứ nhất, cột nằm ở cạnh ngắn hình chữ nhật, đối xứng với nhau ở hai bên lối thứ 2 có 4 cây cột nằm ở cạnh ngắn, hai bên là hai cột đối xứng 3 thì có thêm 2 cột nằm ở cạnh ngắn phía 4 là sự kết hợp của loại 2 và loại 3, có 4 cột ở cạnh ngắn phía trước và 4 cột ở cạnh ngắn phía thứ 5 bao gồm 1 hàng cột ở ngoài đền thờ còn lại có 2 hàng cột bao quanh chu vi đền thờ Công trình kiến trúc cổ đại phương Đông Ziggurat Thành cổ Babylon – kiến trúc cổ đại phương Đông Thành cổ Acropolis tại Athens – biểu tượng của kiến trúc cổ đại phương Tây Bên ngoài cổng khải hoàn môn Constantinus – biểu tượng của kiến trúc cổ đại phương Tây Như vậy, đã cùng bạn tìm hiểu những điểm khác biệt giữa kiến trúc cổ đại phương Đông và phương Tây ấn tượng nhất và vẫn còn được bảo tồn cho đến hiện tại. Có thể thấy người xưa đã rất tài tình trong việc tạo nên những công trình tuyệt mỹ để cho thế hệ chúng ta trầm trồ thán phục. Hãy thường xuyên đón đọc các bài viết của để cập nhật những tin tức độc đáo và mới lạ xoay quanh chủ đề kiến trúc nhé. Câu hỏi Sự khác biệt lớn nhất giữa kiến trúc cổ đại phương Đông và phương Tây là gì? A Kiến trúc cổ đại phương Tây thiên về những công trình đền thờ hình chữ nhật và hình tròn, hình vòm. Còn kiến trúc cổ đại phương Đông đồ sộ về quy mô, thiết kế theo hình tháp, chóp nhọn. Right B Kiến trúc cổ đại phương Tây theo nhiều giai đoạn còn phương Đông thì không Wrong C Kiến trúc cổ đại phương Tây có phần “phóng thoáng” hơn phương Đông Wrong ANSWER Dành cho bạn Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương - một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Thời kỳ hội nhập mang đến đất nước chúng ta những cơ hội mới, những luồng văn hóa mới nhưng cũng đi kèm cái giá là sự biến chất, mai một của nhiều giá trị văn hóa truyền thống quý báu. Thói sính ngoại đã lan đến cả những vùng thôn quê và có những thay đổi đáng kể lên tư duy người Việt, lên cách chúng ta quan sát, cảm nhận và giữ gìn văn hóa phương Đông. Cùng đọc cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương của tác giả Nguyễn Duy Cần để có cái nhìn sâu sắc, khúc chiết hơn về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa này. Tác giả cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngNội dung cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngNgười phương Đông Người phương TâyTrích dẫn hay từ cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngNhận xét về cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngLời kếtCảm Nhận Của Độc Giả Văn minh Đông Phương và Tây Phương là một cuốn sách nổi tiếng khác của học giả Nguyễn Duy Cần. Cụ Nguyễn Duy Cần là một nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà văn lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 20. Cụ để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị tham khảo vô cùng lớn. Những cuốn sách của Nguyễn Duy Cần đến nay vẫn được người đọc vô cùng trân trọng bởi những giá trị vượt thời gian. Những cái tên nổi bật phải kể đến như Tôi tự học, Óc sáng suốt, Thuật yêu đương, Cái dũng của thánh nhân, Văn minh Đông Phương và Tây Phương,… Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương – một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Sách hay nên đọc Review sách Tôi tự học – Cách học xứng đáng với cái tầm của từng trang sách Công ty phát hành NXB Trẻ Ngày xuất bản 2017-04-11 000000 Kích thước 13 x 19 cm Số trang 168 Nội dung cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương Trước tình trạng người Việt chuộng Tây hơn Đông, người phương Đông bị Tây hóa quá nhanh, cuốn sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương bàn luận về những cái hay, những giá trị vượt bậc của Đông phương và những cái chưa hay trong nền văn hóa Tây phương. Phân tích, so sánh những cái hay dở trong tinh thần, tư tưởng, đạo lý giữa hai nền văn minh, Văn minh Đông Phương và Tây Phương rút ra những cái chung nhất như sau Người phương Đông Dễ thấy, sách vở kinh điển của Đông phương thường dùng lối hành văn rất vắn tắt, ít lý luận và không đi vào mình chứng dài dòng. Mục đích của lối viết ấy là để người đọc phải dụng công suy nghĩ. Việc của họ là gợi lên trong người đọc manh nha những luồng tư tưởng chứ không truyền bá, gượng ép. Hiểu biết là phải tự mình tìm ra, tự mình chiêm nghiệm chứ không phải được nhồi sọ. Học của người khác không phải để chạy theo họ, mà để làm sâu hơn, làm dày hơn vốn hiểu biết của mình. Theo Văn minh Đông Phương và Tây Phương, người phương Đông thiên về phẩm và coi nhẹ lượng. Họ luôn tự đặt những câu hỏi về bản thân với mục đich cuối cùng là tu tập để giải thoát. Đặt mục đích tối cao là hiểu bản thân, vì hiểu bản thân – cái tiểu vũ trụ trong chính mình, thì mới hiểu được vũ trụ cao rộng ngoài kia. Nhiều nước phương Đông bị tụt hậu so với phương Tây vì họ không trọng vật chất. Đa số các nước này đã trở thành thuộc địa của các nước thống trị. Một số nước lại vươn lên thành cường quốc nhưng sau đó lại chà đạp lên các quốc gia khác. Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương – một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Sách hay nên đọc Review sách Óc sáng suốt – Tư duy là một công trình nghệ thuật Người phương Tây Người phương Tây nhận xét rằng sách vở phương Đông viết tối tăm, mơ màng, không được rõ ràng và minh bạch như Tây phương. Trái lại, nhiều học giả phương Đông lại nhận xét lối văn của phương Tây là nông nổi, gượng ép, vì cố nhồi vào tâm trí người đọc những tư tưởng chủ quan của mình mà không cho họ tự khái quát, tự thấm thía, làm mất tinh thần và bản chất vốn có của người đọc. Theo Văn minh Đông Phương và Tây Phương, người phương Tây theo đuổi tự do vật chất. Nhiều người cho rằng tự do vật chất sẽ cho họ tự do tinh thần. Nhưng chính vì khát khao độc lập vật chất này, họ đã dồn loài người tới những cuộc chiến tranh phi nghĩa, cốt để tranh giành của cải và quyền lực. Gần 200 năm nay, loài người chạy theo chủ nghĩa vật chất, mải mê đánh chiếm mà quên mất việc quan trọng là phát triển tâm thức, nhìn sâu vào những nhu cầu bên trong mình. Trích dẫn hay từ cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương Cái học của người Đông phương là cái học siêu hình về Bản thể, chứ không phải thuộc cái học về sắc tướng, hướng về sự trở nên như của người Tây phương. Người Đông phương suốt đời chỉ tìm mà thực hiện lại cái Duy nhất ấy, trở về cái nguồn gốc ấy bản thể. Bản thể có sẵn nơi mỗi người. Vì thế, người Đông phương không tìm cách trở nên cái toàn thiện của bên ngoài, nghĩa là không tìm mà mô phỏng theo cái toàn thiện của kẻ chung quanh. Trái lại, họ tìm mà thực hiện cái Bản thể nơi bản thân họ, cho nên cái học của họ là cái học từ giác, tu thân, phản tỉnh. Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương – một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Và cũng nhân đó, quan niệm về sức mạnh của họ không phải đem cái vũ lực để chinh phục thế giới bên ngoài như Tây phương mà là cái sức mạnh tinh thần, lo chinh phục, chiến thắng mình trước hết. “Trước làm sáng cho mình, sau làm sáng cho người” “Tu thần, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Trái lại, kẻ người Đông phương đã tự mình nhận chân được cái kho tàng bất tận nơi mình rồi, thì người đó ắt không còn khao khát gì về ngoại vật nữa, và cũng nhờ đó mà lòng họ được bình tĩnh, thản nhiên hơn với những biến cố trong đời. Theo người Tây phương, mỗi một cái gì bên ngoài kích thích ám ảnh mình mà mình mong ước và mình tìm được phương thế để thỏa mãn được, nghĩa là mình chinh phục hay thâu trữ được, đó gọi là một tiến bộ, … cho nên thời gian của họ rất eo hẹp. Họ trở nên bồn chồn, vất vả, lo âu, băn khoăn, náo động đến nỗi không kịp ngày giờ để trầm ngâm suy nghĩ. Bởi vậy, tâm họ thiếu kiên nhẫn, ưa vụt chạc, rất nóng nảy. Còn người Đông phương, trái lại hòa hoãn, ung dung, thản nhiên, bình tĩnh và thích trầm ngâm tư tưởng hơn. … Và vì thế, người Tây phương chê người Đông phương là làm biếng. Người Tây phương là người hành động. Họ đánh giá con người theo cái năng lực sản xuất vật chất của người ấy. Con người đắc lực của họ, tựu trung là người thành công về vấn đề tiền bạc, vì tiền bạc là phương tiện để họ sai sử thế giới chung quanh, để nâng cao giá trị bên ngoài, để bù đắp cái nghèo kém tinh thần của họ. Anh Trung Hoa nói “Hễ được phần này thì mất phần kia. Máy bay giúp cho người ta giao dịch mau lẹ, nhưng nó cũng đã giúp cho chiến tranh tàn phá gớm ghê. Cũng không có một tiến bộ gì mà không có một thối bộ khác bù vào.” Bình đẳng của Đông phương căn cứ trên sự bất bình đẳng tự nhiên, cho rằng con người sanh ra không ai bình đẳng cả về phẩm chất. Tuy nhiên, người Đông phương rất quý trọng cá nhân, mỗi cá nhân đều có giá trị tuyệt đối nếu họ biết thực hiện đến mức cùng cực cái thực thể của bản thân họ. Trong một dàn nhạc, cái tận thiện của một nhạc sĩ đờn vĩ cầm không giống cái tận thiện của một nhạc sĩ đờn dương cầm. Trích ” Văn minh Đông Phương và Tây Phương” Nhận xét về cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương Sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm về văn hóa, khi cái hồn phương Đông đang bị chủ nghĩa thực dụng của phương Tây hút cạn. Đọc sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương, ta thấy trân trọng hơn tâm hồn, cốt tủy của một nên văn minh với những giá trị cao đẹp và sâu sắc. Nền văn minh phương Đông hướng nội giúp chúng ta sống bình tĩnh, than thản, chịu khó đi sâu vào bên trong để tìm hiểu chính mình và sống đời thiện lương hơn. Nguyễn Duy Cần đem tư duy của văn minh phương Đông vào những cuốn sách của cụ. Không gò ép ai theo tư tưởng của mình, không vẽ sẵn lối đi mà chỉ gợi mở để người đọc tự nghiên cứu và suy ngẫm. Dẫu rằng mỗi văn hóa đều có cái hay dở, nhưng trước thực trạng văn hóa Đông phương đang bị mai một này, chúng ta cần đọc để hiểu hơn và giữ gìn những gì quý giá nhất của dân tộc ta. Lời kết Cảm tạ cụ Nguyễn Duy Cần bởi những cuốn sách sâu sắc và giàu giá trị như Văn minh Đông Phương và Tây Phương. Vỏn vẹn 168 trang giấy, sách đã cho chúng ta quay ngược thời gian và nhìn sâu hơn vào tâm hồn dân tộc để thêm trân trọng nền văn minh Đông phương này. Sách hay nên đọc Review sách Thuật Yêu Đương – đừng nói ái tình không cần đến lý trí Cảm Nhận Của Độc Giả PHẦN MỞ ĐẦU Lịch sử văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Loài người ra đời và đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần cách đây hàng triệu năm. Ở phương Đông tức ở Châu Á và Đông Bắc Châu Phi, từ cuối thiên niên kỷ IV – đầu thiên niên kỷ III trước CN, có bốn trung tâm văn minh lớn, đó là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Cả 4 trung tâm này đều nằm trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile ở Ai Cập, sông Euphrates và sông Tigris ở Lưỡng Hà, sông Ấn Indus và sông Hằng Gange ở Ấn Độ, Trường Giang và Hoàng Hà ở Trung Quốc. Nhờ sự bồi đắp của những con sông này nên đất đai ở đây màu mỡ, rất thuận lợi cho nền nông nghiệp xuất hiện và phát triển và hơn thế nữa là sáng tạo những thành tựu văn minh rực rỡ. Phương Đông cũng là cái nôi của văn minh nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ viết, văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác Ở phương Tây xuất hiện nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Tuy muộn hơn phương Đông từ thiên niên kỷ III đến thiên niên kỷ II trước CN nhưng Hy Lạp đã đạt được những thành tựu to lớn. Đến thế kỷ VI TCN, nhà nước La Mã bắt đầu xuất hiện. Kế thừa và phát huy văn minh Hy Lạp, La Mã trở thành một trung tâm văn minh lớn ở phương Tây. La Mã chinh phục Hy Lạp thế kỷ II TCN và tiếp đó chinh phục các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp ở phương Đông, trở thành đế quốc rộng lớn, hùng mạnh. Văn minh La Mã vốn chịu ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp, vốn có cùng một phong cách, giờ đây lại hòa đồng và tiếp biến với nó, nên người ta gọi chung hai nền văn minh này là văn minh Hy – La. Những thành tựu rực rỡ của văn minh Hi-La cổ đại được ghi vào lịch sử nhân loại như những ánh hào quang rực rỡ nhất. đã đặt một nền tảng khá vững chắc cho văn minh châu Âu nói riêng và mang đến cho nền văn hóa thế giới nói chung những thành tựu bất hủ mọi thời đại. Giá trị và tầm ảnh hưởng của văn minh phương Tây cổ trung đại được khẳng định và thừa nhận xét cho cùng chính là những giá trị có tầm ảnh hưởng đến thời đại ngày nay. Nói đến văn minh Phương Đông không thể không đặt nó trong mối tương quan với văn minh Phương Tây. Nếu chỉ nhìn văn minh Phương Đông với riêng nó sẽ thiếu tính khách quan, cần đặt Phương Đông trong sự liên hệ với Phương Tây. Giữa 2 nền văn minh này có nhiều điểm giống và khác nhau, tìm ra những điểm ấy của văn minh đông – tây cũng là tìm ra mấu chốt, là chìa khoá để mở ra cánh cửa đóng kín từ lâu của thế giới cổ đại đầy bí ẩn. Với tiểu luận này, tôi xin trình bày một số điều mình nghĩ về sự giống và khác nhau giữa các quốc gia cổ đại phương đông, phương tây trong thế giới cổ đại. Khoảng 3500 năm đến 2000 năm trước công nguyên, cư dân ở Tây Á, Ai Cập và cư dân ở lưu vực các sông còn lại đã sinh sống trên đồng bằng ở ven các con sông. Họ sống bằng nghê nông là chủ yếu và biết trồng mỗi năm hai vụ. Đồng bằng ven sông đã bù đắp rất nhiều cho con người. Vào mùa mưa hàng năm, nước sông dâng cao, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp phù sa màu mỡ và làm cho đất rất mềm, dễ làm với cả những chiếc cày bằng gỗ. Cư dân phương Đông sống bằng nghề nông là chủ yếu nên trước tiên họ phải lo đến công tác thuỷ lợi. Họ đã biết đào các hệ thống kênh, lập hệ thống gầu để múc nước ở chân ruộng thấp và đưa nước lên chân ruộng cao những khi cần. Ngoài ra, họ còn biết đắp đê để ngăn lũ nhờ thế con người có thể thu hoạch lúa ổn định hằng năm. Công việc trị thuỷ khiến moi người gắn bó và ràng buộc với nhau trong tổ chức công xã. Điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây cổ đại Hi Lạp cổ đại Hi Lạp cổ đại nằm ở phái Nam bán đảo Balkans, giống như cái đinh ba của thần biển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Thế kỉ IX TCN, người Hi Lạp gọi tên nước mình là Hellad hay Ellad dựa theo tên tộc người của họ. Qua phiên âm từ Trung Quốc, ta gọi là Hi Lạp. Đất đai Hi Lạp cổ đại bao gồm Hi Lạp ngày nay, các đảo trong biển Aegean tới phía Tây Tiểu Á, và phía Bắc của Bắc Hải, nhưng vùng quan trọng nhất là vùng lục địa Hi Lạp ở phía Nam Balkans. Lục địa Hi Lạp gồm 3 phần miền Bắc là vùng đồng bằng rộng lớn và quan trọng nhất Hi Lạp; miền Trung ngăn cách với phía bắc bởi đèo Thermopil hiểm trở, nơi đây có 2 đồng bằng lớn là Attique và Beotie trù phú với thành thị Athens nổi tiếng; miền Nam là bán đảo Peloponesus như hình bàn tay bốn ngón xòe ra Địa Trung Hải – đây là nơi xuất hiện nhà nước thành bang đầu tiên của Hi Lạp – nhà nước Sparta. Mặc dù có nhiều đồng bằng rộng lớn nhưng nhìn chung đất đai Hi Lạp không phì nhiêu lắm, chủ yếu trồng nho, ô liu và phát triển các nghề thủ công, còn lương thực chính là lúa mì phần lớn được nhập từ Ai Cập. Địa hình Hi Lạp tương đối trở ngại về giao thông đường bộ nhưng có sự thuận lợi tuyệt vời với con đường giao thông trên biển, bờ biển có nhiều cảng, vịnh, thuận lợi cho tàu bè hoạt động. Từ đây, người Hi Lạp dễ dàng tới vùng Tiểu Á, Bắc Hải để giao thương. Nằm giữa vùng tiếp giáp giữa 3 châu, Hi Lạp sớm tiếp thu những thành tựu của nền văn minh phương Đông cổ đại và tạo ra một nền văn minh Hi Lạp cổ đại độc đáo và rực rỡ, với những thành tựu tuyệt vời đóng góp cho sự phát triển của văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung. La Mã cổ đại Nơi phát sinh quốc gia La Mã cổ đại là bán đảo Ý – một dải đất dài và hẹp như chiếc hia duỗi thẳng xuống Địa Trung Hải với diện tích lớn gấp 5 lần bán đảo Hi Lạp. Phía Bắc có dãy núi Apels như một bức tường thành tự nhiên ngăn cách bán đảo với lục địa châu Âu; ba phía Đông, Tây, Nam đều có biển bao bọc. Dãy núi Apennines như một chiếc xương sống chạy dọc bán đảo từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khác với Hi Lạp, điều kiện tự nhiên của La Mã tương đối thuận lợi hơn. Nơi đây có nhiều đồng bằng rộng lớn, màu mỡ và phì nhiêu đồng bằng sông Pô miền Bắc, đồng bằng sông Tibrơ miền Trung, các đồng bằng trên đảo Xixin. Ở miền Nam còn có nhiều đồng cỏ rộng lớn thuận tiện cho việc phát triển nghề nông và chăn nuôi gia súc. Ở phía Tây và Nam, bờ biển có nhiều cảng, tàu bè ra vào dễ dàng, thuận lợi cho giao thông và buôn bán.  Tóm lại đặc điểm kinh tế. Kinh tế của họ phát triển đến thời cổ đại đều đã kinh qua nền sản xuất nguyên thuỷ, công xã thị tộc. Hay nói cách khác sự tan rã của nền kinh tế nguyên thuỷ là tiền đề để hình thành nền kinh tế cổ đại ở cả các quốc gia phương đông và phương tâyì đều trải qua nền sản xuất nguyên thuỷ nên họ đều có những điểm giống nhau, đều trải qua mô hình sản xuất công xã thị tộc, công xã nông thôn, đều có nền kinh tế đi lên từ nông nghiệp -Kinh tế của họ phát triển đều dựa vào điều kiện tự nhiên, phát huy thế mạnh mà tự nhiên ban tặng cũng như hạn chế đến mức tối đa các khó khăn từ điều kiện tự nhiên gây ra với kinh tế ở phương đông là tận dụng lương mưa và đất phù sa để phát triển nông nghiệp, hạn chế hậu quả do lũ lụt gây ra, ở phương tây là phát huy thế mạnh về hàng hải và thủ công nghiệp, hạn chế khó khăn do thiếu hụt lương thực gây raở phương tây, đất đai không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nên phải dựa vào thương nghiệp để mua lương thực cho những năm mất mùa Ở cả các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều đã có đủ sự khác nhau chỉ ở chỗ họ lấy nghành kinh tế nào là mũi nhọn để phát triển mà thôi. Ở phương Đông đặc trưng kinh tế của họ là nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cấp,tự túc tế thủ công nghiệp và thương nghiệp có tồn tại nhưng không có điều kiện phát triển, được coi như nghề phụ trong những lúc nông nhànái lại các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế chủ yếu của họ là thủ công nghiệp và thương là nơi hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá cổ đại đây ta sẽ đi rõ vào chi tiết từng ngành sản xuất để thấy rõ hơn sự khác biệt trên nông nghiệp các quốc gia cổ đại phương đông nông nghiệp trồng lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu, là cơ sở kinh tế của tất cả các quốc gia cổ đại phương đông. Bên cạnh việc lấy nghề nông làm gốc, cư dân phương đông thời cổ đã biết chăn nuôi gia súc như bò, cừu, lợn , và biết trồng các loại ngũ cốc khác nhau như ngô, lúa mạch, kê, vừng và các loại cây ăn quả khác. Chính vì các nghành nông nghiệp phát triển theo hướng tự túc, tự cấp như vậy nên kinh tế hàng hoá không phát triển, nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hoá ít. Lối sản xuất này của họ đã gần như bóp nghẹt kinh tế công thương nghiệp và tạo ra sự trì trệ tương đối nhưng vì 3 trong 4 quốc gia cổ đại phương đông nằm biệt lập với thế giới bên ngoài nên nền kinh tế tự túc, tự cấp là phù hợp với điều kiện phát triển của họ. Chỉ có Lưỡng Hà nằm ở nơi địa hình bằng phẳng nên phát triển hơi khác về kinh tế họ phát triển công thương nghiệp và là một trung tâm thương nghiệp lớn trong thế giới cổ đại họ có nhiều nét giống các quốc gia cổ đại phương tây nhưng về bản chất họ vẫn lấy nghề nông làm gốc điều này thể hiện rất rõ qua bộ luật Hammurabi bộ luật thành văn đầu tiên của thế giới bộ luật này chủ yếu bảo vệ nông nghiệp và quan hệ sản xuất nông nghiệp. 1Ở các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế nông nghiệp không phát triển như các quốc gia cổ đaị phương đông. Nền nông nghiệp của họ chủ yếu gắn với thị trường và phục vụ nhu cầu của thị trường. Cây trồng chính của họ không phải là cây lúa nước họ chủ yếu trồng lúa mì và các cây công nghiệp lâu năm như nho, ô liu Như vậy ta có thể thấy nền nông nghiệp của họ không chỉ để phục vụ nhu cầu cá nhân mà còn phục vụ nhu cầu của thị trường. Từ đó ta có thể thấy rõ sự phát triển của yếu tố thị trường trong sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là sự khác nhau cơ bản của sản xuất nông nghiệp phương đông và phương tây. 2. Trong thủ công nghiệp các quốc gia phương đông họ đã biết làm nhiều nghề thủ công với những dấu ấn riêng ở mỗi quốc gia như đồ gốm sứ ở Trung Quốc, Lưỡng Hà, dệt ở Trung Quốc, làm giấy ở Ai Cập nhưng kinh tế thủ công nghiệp ở đây vẫn bị cho là nền kinh tế bổ trợ cho nông nghiệp. Vì vậy độ chuyên môn hoá trong sản xuất thủ công nghiệp chưa cao. Ở nhiều nơi nghề thủ công chỉ được coi như “nghề phụ” là việc sông Nin ở Ai Cập, Sông Tigơrơ và Ơphơrát ở Lưỡng Hà, Sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, Sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc. Chính các con sông này đã tạo nên các đồng bằng phì nhiêu, các vụ mùa bội thu và quan trọng nhất là tạo ra các nhà nước cổ đại phương đông. Không một quốc gia phương đông cổ đại nào mà lại không có một dòng sông lớn chảy qua. Nhờ lớp đất phù sa có nơi dày tới vài mét nên nông nghiệp phương đông vẫn phát triển dù thời kì đó công cụ lao động của họ chủ yếu là gỗ, đá và đồng đỏ họ có thể canh tác mà không cần công cụ bằng sắt. Một yếu tố tự nhiên khác làm cho sự phân hoá đông – tây là khí hậu và địa hình. Như ta đã biết một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì phải dựa vào điều kiện khí hậu và địa hình. Ví dụ ở nước ta cũng như đa số các quốc gia phương đông nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển do nó hình thành trên cơ sở các đồng bằng rộng lớn có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Sở dĩ 2 yếu tố này đi với nhau vì nó bổ xung lẫn nhau vì có những nơi như ở La Mã cổ đại có các đồng bằng khá lớn như đồng bằng Pô và đồng bằng Tibrơ nhưng nền kinh tế nông nghiệp không dữ vai trò chủ đạo vì khí hậu ở đây là khí hậu Địa Trung Hải tuy có nhiều nét giống với khí hậu nhiệt đới nhưng lượng mưa hàng năm ít hơn nhiều, còn ở một số vùng như ở Trung Phi và một số vùng núi cao ở nước ta lượng mưa trong năm khá cao nhưng do địa hình gồ ghề không có các đồng bằng châu thổ rộng lớn nên không có điều kiện phát triển nhà nước. Theo như những gì nãy giờ ta phân tích về sự quan trọng của sông ngòi, địa hình, khí hậu làm nền tảng cho nền nông nghiệp phương đông thì những điều kiện đó không có đủ như ở các quốc gia phương tây. Vậy cơ sở tự nhiên để hình thành các quốc gia cổ đại phương tây là gì? Như đã nói từ đầu nền kinh tế các quốc gia cổ đại phương tây là nền kinh tế dựa trên sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp, nông nghiệp chỉ là thứ yếu, là nguyên liệu cho thủ công nghiệp và thương nghiệp vì thế các quốc gia cổ đại phương tây không cần các điều kiện như ở phương đông. Nhưng họ cũng là con người, cũng phải tuân theo các quy luật nhất định nhà nước chỉ hình thành khi kinh tế đạt đến một mức nào đó khi mà quan hệ công xã thị tộc bị giải thể vì sự tư hữu trong tư liệu sản xuất. Các quốc gia phương tây không cần các điêu kiện như phương đông vì họ dựa trên thủ công nghiệp và thương nghiệp. Hi Lạp và La Mã đều là các quốc gia nằm trên các bán đảo lớn ăn ra biển, có nhiều vũng, vịnh kín gió thuận lợi cho phát triển hàng hải. Hơn nữa 2 bán đảo Bancăng và Italia đều nằm trong vùng biển Địa Trung Hải vùng biển này 3 mặt là 3 châu lục Á, Phi, Âu bao bọc nên tương đối yên bình, ít bão lớn. Vì thế từ thời cổ đại khi kĩ thuật đóng tàu chưa phát triển hoàn thiện người ta vẫn có thể vượt biển để buôn bán. Đất đai và khí hậu ở đây tuy không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước nhưng bù lại khí hậu và đất đai ở đây lại thuận lợi cho việc trồng một số cây công nghiệp lâu năm như nho, ôliu. Đây là nguyên liệu để sản xuất rượu nho và dầu ôliu 2 mặt hàng có thể cho là “đặc sản” của các quốc gia cổ đại phương tây. Hơn nữa đất đai của họ không thích hợp với sản xuất nông nghiệp nên để có nguồn lương thực đáp ứng nhu cầu họ phải tiến hành trao đổi, buôn bán với các quốc gia dồi dào lương thực ở phương đông như Ai Cập, Lưỡng Hà đây cũng là những thị trường tiêu thụ rộng lớn của họ. 3. So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về chính trị – xã hội Cũng giống như về kinh tế, về chính trị – xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây có những nét giống và khác nhau nhất định. 3. Giống nhau Do cùng trải qua xã hội nguyên thuỷ trước khi hình thành các quốc gia cổ đại của mình nên giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng có những nét giống nhau. Cơ sở của việc hình thành nhà nước là sự phân chia giai cấp và sự tư hữu về tư liệu sản xuất nên xã hội cổ đại phương đông và phương tây đều chia làm 2 tầng lớp là tầng lớp thống trị bao gồm tăng lữ, quý tộc ở phương đông và chủ nô ở phương tây, tầng lớp bị trị là những nông dân công xã, dân tự do và nô lệ. chưa có sự xuất hiện của công cụ bằng sắt. “Thậm chí người Ai Cập mới chỉ biết đến công cụ bằng đá và gỗ”Lịch sử thế giới cổ trung đại. Trong khi đó các quốc gia cổ đại phương tây bước vào quá trình hình thành nhà nước muộn hơn nhiều theo một số tài liệu thì đó là vào khoảng thế kỉ VIII- VII TCN. Đây cũng là sự khác nhau về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây. Điểm khác nhau tiếp theo về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là các quốc gia cổ đại phương đông tồn tại một cách khá cách biệt với thế giới bên ngoài nên họ tồn tại và phát triển một cách khá độc lập liên tục mà không chịu ảnh hưởng của nền văn minh nào khác từ bên ngoài nếu bị xâm lược thì thường giành lại độc lập sau đó. Trong khi đó chính trị, xã hội của các quốc gia cổ đại phương tây chịu ảnh hưởng khá lớn từ các lực lượng bên ngoài. Họ thường phải chịu những cuộc xâm lược của các bộ tộc khác tiêu biểu là cuộc xâm lược của người Giecmanh cuộc xâm lược này đã làm sụp đổ đế chế La Mã đồng thời cũng chấm dứt lịch sử cổ đại châu Âu mở ra thời kì phong kiến. Về mặt tổ chức nhà nước thì các quốc gia cổ đại phương đông lãnh thổ của họ thường khá rộng lớn và là một nhà nước thống nhất ví dụ như Ai Cập, Trung Quốc, Lưỡng Hà. Lịch sử Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc cũng có một số thời kì bị chia cắt nhưng các vùng chia cắt thường không khác nhau lắm về chính trị, xã hội, hơn nữa thì chúng thường được nhanh chóng thống nhất trở lại. Nhưng ở các quốc gia cổ đại phương tây đặc biệt là ở Hi Lạp cổ đại, nhà nước của họ tồn tại dưới hình thức thành bang tức là trên lãnh thổ đó tồn tại nhiều tiểu quốc nhỏ với chế độ tổ chức nhà nước khác nhau giữa các thành bang không có sự giống nhau ví dụ thành bang Aten là thành bang có hình thức hội đồng 500 và hội đồng công dân đứng đầu là 10 nhà chiến lược kiệt xuất được bầu chọn, ở Xpác cũng có hội đồng nhân dân nhưng chủ chốt lại là ở 2 vua và 5 quan giám sát. Ở Rôma thời kì đế chế tuy lãnh thổ mở rộng nhưng về bản chất vẫn không có sự quản lý chặt chẽ thành một khối như ở các quốc gia cổ đại phương đông. Sự khác nhau về xã hội Theo quy luật khách quan của lịch sử thì tiếp theo xã hội cổ đại sẽ là xã hội chiếm nô nhưng do một số nguyên nhân về điều kiện tự nhiên và xã hội nên ở phương đông tồn tại một cách dai dẳng chế độ công xã nông thôn 1 hình thức tổ chức xã hội mà trong đó duy trì nền kinh tế tự nhiên và nhiều tàn dư của công xã nguyên thuỷ. Vì vậy nên xã hội chiếm nô ở phương đông không phát triển đến mức thành thục, điển hình như ở các quốc gia phương tây nơi số lượng nô lệ đông gấp hàng chục lần chủ nô và bình dân. Điều khác nhau tiếp theo giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là về lực lượng chính lao động để làm ra của cải vật chất. Ở các quốc gia phương tây với nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, lực lượng chính làm ra của cải vật chất là những người nô lệ, một thứ “công cụ biết nói”, còn ở các quốc gia cổ đại phương đông với nền kinh tế nông nghiệp phát triển thì vai trò này thuộc về những nông dân công xã. Lực lượng lao động chính khác nhau cũng cho thấy sự khác nhau về bản chất xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia cổ đại phương tây. Do sự khác biệt trong lực lượng sản xuất chính giữa xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây nên mâu thuẫn xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng khác nhau. Ở xã hội cổ đại phương đông dó là mâu thuẫn giữa 2 giai tầng chính là giai cấp thống trị vua, quan, quý tộc và giai cấp bị trị nông dân công xã, nô và thợ thủ công. Ở các quốc gia cổ đại phương tây thì có vẻ phức tạp hơn vì ngoài 2 giai cấp đối kháng là chủ nô và nô lệ thì lại có thêm một tầng lớp không bóc lột ai nhưng cũng không bị ai bóc lột, họ là những người dân tự do nghèo, Mác đã gọi họ là tầng lớp “vô sản ăn bám” họ sống nhờ vào phúc lợi xã hội mà không cần phải lao động gì. Đó cũng là sự khác biệt giữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia đại phương tây. Trong cơ cấu xã hội của các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng có chủ chủ nô ở phương tây. Do ở phương đông nền kinh tế nông nghiệp tự túc, tự cấp phát trỉển còn ở phương tây có nền kinh tế hàng hoá, công thương nghiệp phát triển nên yêu cầu về chính trị, xã hội khác nhau. Ở phương đông với nền kinh tế nông nghiệp thì thuỷ lợi là vấn đề hàng đầu, nhưng trị thuỷ phải có sự góp sức của nhiều người vì thế chế độ tập quyền chuyên chế giúp vua có khả năng trong điều hành các công việc chung dễ dàng hơn. Ngoài ra các vị vua phương đông thường mượn thần quyền để tăng uy tín của mình. Trái lại ở phương tây họ hình thành các quốc gia cổ đại muộn hơn nên có thể tiếp thu thành tựu phương đông. Trong các quốc gia phương đông cổ đại Lưỡng Hà là nước dân chủ hơn cả cộng thêm với việc thương nghiệp ở đây phát triển nên theo tôi các quốc gia phương tây đã học tập và hoàn thiện chế độ ở Lưỡng Hà và lập ra các nhà nước dân chủ chủ nô nhằm hạn chế sự chuyên quyền của vua đồng thời tạo tính dân chủ trong xã hội. Hơn nữa nền kinh tế công thương nghiệp của họ không cần có một vị vua chuyên quyền để cai trị, nền kinh tế công thương coi trọng sự công bằng hơn nữa họ muốn không chỉ có địa vị kinh tế mà còn có địa vị xã hội nên đó cũng có thể là lý do hình thành nhà nước dân chủ chủ nô ở các quốc gia cổ đạu phương tây. Nguyên nhân nhà nước chiếm hữu nô lệ phương tây phát triển một cách thuần thục và điển hình trong khi ở các quốc gia phương đông thì không do ở phương tây, kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ lực lượng dân tự do không đáp ứng kịp từ đó nảy sinh nhu cầu cần một lực lượng chính chuyên môn hoá sản xuất, phục vụ cho nhu cầu công thương nghiệp hơn nữa giữa các quốc gia cổ đại phương tây thường sảy ra chiến tranh để cướp đoạt nô lệ, của cải vì thế số lượng bình dân giảm nhưng số lượng nô lệ lại tăng vì thế bóc lột bình dân như ở các nước phương đông không không còn phù hợp. Vì thế theo em ban đầu nô lệ ở phương tây cũng mang tính gia trưởng như ở phương đông nhưng sau đó do nhu cầu phát triển kinh tế công thương nghiệp nên xã hội chiếm nô ở đây ngày càng phát triển tới mức thành thục và điển hình. Nguyên nhân của sự chênh lệch về thời gian hình thành giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây do ở phương đông có điều kiện tự nhiên thuận lợi khí hậu phù hợp, đất phù sa màu mỡ rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng phải lo làm thuỷ lợi phòng lũ lụt nên từ rất sớm các công xã nông thôn đã hợp nhất thành các liên minh bộ lạc lớn rồi từ đó hình thành các quốc gia cổ đại vì thế ngay cả khi loài người còn đang ở thời kì đá – đồng, khi mà công cụ bằng sắt chưa xuất hiện thì họ vẫn có thể thành lập các nhà nước cổ đại. Trái lại, ở phương tây đất canh tác không màu mỡ bằng, khí hậu không phù hợp để canh tác nông nghiệp vì thế chỉ khi công cụ bằng sắt ra đời từ khoảng giữa TNK I TCN thì các quốc gia cổ đại phương tây mới hình thành. Ở đây ta lại có thắc mắc tại sao các quốc gia phương tây phát triển công thương nghiệp lại cần sự phát triển nông nghiệp ở thời đồ sắt lý do rất đơn giản vì nông nghiệp là cơ sở của mọi ngành kinh tế, là hình thức kinh tế giúp con người tồn tại, không ở đâu là không cần nông nghiệp phát triển kể cả các quốc gia phương tây vì nông nghiệp là cơ sở để duy trì sự tồn tại của xã hội Nguyên nhân sự khác nhau về giai cấp đối kháng giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tâylý do sự khác nhau đó đến từ thể chế chính trị, xã hội. Ở các quốc gia phương đông cổ đại hình thức chính trị xã hội chủ yếu của họ là hình thức tập quyền chuyên chế vì thế mâu thuẫn giai cấp chủ yếu sảy ra giữa nông dân công xã và quý tộc, quan lại trong khi đó ở các quốc gia cổ đại phương tây nền dân chủ chủ nô phát triển mâu thuẫn chủ yếu là giữa chủ nô và nô lệ nhưng trong xã hội cổ đại phương tây lại có sự phức tạp hơn phương đông ở chỗ ngoài hai giai cấp đối kháng chủ yếu là chủ nô và nô lệ còn xuất hiện giai cấp bình dân họ không bị bóc lột như nô lệ nhưng cũng không bóc lột trực tiếp đối với nô lệ họ sống nhờ vào phúc lợi xã hội giai cấp vô sản ăn bám. Giai cấp này hình thành trên cơ sở sự phát triển của chế độ chiếm nô khi của cải trong xã hội đã tích luỹ 1 lượng của cải đủ nuôi sống cả xã hội. Họ sống nhờ vào chính quyền chiếm nô nên có quan hệ lệ giai đoạn lịch sử đông Ktruc cổ của các nước phương Đông có đặc điểm là thường gắn với tôn giáo, người pđ rất trọng tâm linh nên họ thường tập trung của cải, sức lực để xây dựng các đền tháp đồ sộ để mời các vị thần về, cầu mong các thần phù hộ. Do đó, ở Phương Đông nhiều công trình mang tính chất tôn giáo đã ra đời và dựng lên ở hầu khắp các nước một tấm thảm nghệ thuật vô cùng đa dạng và huyền bí. Từ những tác phẩm nhỏ bé và tinh xảo tới những công trình khổng lồ , vừa mang nét thiêng liêng phồn thịnh của nền mỹ thuật Ấn Độ lại có những tác phẩm mang vẻ đẹp tinh vi óng chuốt của phong cách siêu quán Trung Hoa. Có thể nói, trong quá trình phát triển văn minh, người Phương Đông nói chung và người Ai Cập cổ đại nói riêng đã tạo ra những di sản văn hóa cực kỳ quý báu và đồ sộ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kiến trúc Ai Cập cổ đại đã đạt tới một trình độ rất cao. Kiến trúc Ai Cập cổ đại chủ yếu là các đền đài tôn giáo với các cấu trúc khổng lồ và sự thần bí của không gian, được xác định bởi các bờ tường dày và dốc với ít lỗ mở. Các công trình kiến trúc tiêu biểu là cung điện, đền miếu và đặc biệt là Kim tự tháp. Nói đến Ai Cập người ta nghĩ ngay đến những Kim tự tháp đứng sừng sững giữa sa mạc mênh mông. Chúng như những tấm bia khổng lồ ghi lại một thời đại huy hoàng trong lịch sử kiến trúc nhân loại, thể hiện được sức sáng tạo kỳ diệu của những người xây dựng nên nó. Bằng bàn tay và khối óc của mình, người dân Ai Cập cổ đại đã để lại cho nền văn minh nhân loại những giá trị nghệ thuật kiến trúc vô giá. Bên cạnh những giá trị về mặt kiến trúc, Nghệ thuật điêu khắc của Ai Cập cũng có nhiều thành tựu lớn, thành tựu đó biểu hiện ở hai mặt tượng và phù điêu. độc đáo nhất trong lĩnh vực điêu khắc của Ai Cập cổ đại là tượng Xphanh khổng lồ gọi là nhân sư, là những bức tượng mình sư tử, đầu người hoặc dê. Đây là một quái vật huyền thoại của người Ai Cập, thể hiện sức sáng tạo kỳ diệu của người dân Ai cập cổ xưa. Ngoài những công trình lớn nêu trên, mỹ thuật Ai Cập Cổ đại còn đạt tới trình độ hoàn hảo, trong các tranh tượng vừa và nhỏ, theo phong cách tả thực rất tinh vi và đặc sắc trong đó kết hợp chặt chẽ giữa điêu khắc và hội họa. Các tác phẩm tiêu biểu như Tượng đá vôi màu ; Viên thư lại ngồi ,tượng gỗ Cheikh e Beled là tượng gỗ vào loai đẹp và cổ nhất Ai Cập còn lưu lại đến ngày nay. Phù điêu đá vôi Tigrane Pacha. tượng đồng Reine Karomama. Đặc biệt bức phù điêu tuyệt đẹp trên đá tô màu Seti I và Nữ Thần Hathor Nằm ở khu vực Tây Á, Lưỡng Hà cổ đại thuộc vùng đất nằm trong lãnh thổ hai nước Irắc vàCoóet đai Lưỡng Hà được hai con sông Tigre và Euphrate bồi đắp phù sa màu mỡ. Ở đây đã có một nền nghệ thuật phát triển rất cao, nhưng do điều kiện địa lý, họ đã phải dùng nhiều vật liệu không bền như gạch không nung trong kiến trúc, nên nhiều công trình bị động đất và thời gian tàn phá. Thời cổ đại, các công trình kiến trúc chủ yếu là tháp, cung điện, đền miếu, thành, vườn hoa,. Nổi lên trên quần thể kiến trúc thành, cung điện là vườn treo Babilonàn bộ vườn treo thực chất là một vườn hoa được tạo dựng trên không, được xây dựng vào cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VI TCN. Đây là công trình kiến trúc, là chứng tích cho một huyền thoại về tình yêu cuồng nhiệt của những vị vua, hoàng hậu, và công chúa xinh đẹp xứ Mađi. Nghệ thuật điêu khắc gồm tượng và phù điêu. Những tác phẩm tương đối tiêu biểu là “ bia diều hâu” 2800 Tr được tạc để kỷ niệm chiến thắng của Vua thành Lagash , bia Naram Sin khoảng 2700 Tr , Bảo tàng Louwre bia này làm bằng sa thạch đỏ cao 2 mét nay còn nguyên vẹn , vốn là để kỉ niệm chiến thắng của vua Naram Sin. các tượng Vua Goudea 2400Tr là đỉnh cao của nghệ thuật Sumer và Akkad với phong cách dứt khoát và mạnh mẽ. Ngoài ra ta còn biết tài hoa của các nghệ sỹ qua Con dấu trục , “Cột đá naramxin”, “bia điều luật Hamourabi”, phù Art CafeDu lịchVietnamKhông gian đẹpPhong thủyPhotoshopPR – Marketting – Event-AdThời trangBộ sưu tậpThư viện-Tổng hợpVăn minhVăn minh PhươngĐôngÝ tưởng sángtạoVideoVietnam’s Next TopModelVăn minhLoài người ra đời cách đây hàng triệu năm, và từ đó loài người đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh mãi đến cuối thế kỷ IV TCN, xã hội nguyên thuỷ bắt đầu tan rã ở Ai Cập, nhà nước bắt đầu ra đời,từ đó loài người mới bắt đầu bước vào thời kỳ văn đang xem Văn minh phương tây cổ đạiTrong thời cổ đại cuối thiên niên kỷ IV, đầu thiên kiên kỷ III TCN,đến những thế kỷ SCN, ở phương Đông châu Á và Đông Bắc châu Phi, có bốn trung tâm văn minh lớn Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Có một tình hình chung nổi bật là cả bốn trung tâm văn minh này đều nằm trên những vùng chảy qua của những con sông lớn. Muộn hơn một tí, ở phương Tây đã xuất hiện nền văn minh Hy Lạp cổ văn minh Hy Lạp có cơ sở đầu tiên từ thiên niên kỷ III TCN,nhưng tiêu biểu cho nền văn minh Hy Lạp là những thành tựu từ khoảng thế kỷ VII TCN trở về sau. Đến thế kỷ VI TCN, nhà nước La Mã bắt đầu thành lập, trở thành trung tâm văn minh thứ hai ở phương minh La Mã vốn chịu ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp, vốn có cùng một phong cách, giờ đây lại hoà làm một, nên hai nền văn minh này được gọi chung là văn minh vậy, trên thế giới có hai khu vực văn minh lớn phương Đông và phương Tây. Thời cổ đại, phương Đông có bốn trung tâm văn minh là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Thời trung đại, cả Tây Á và Ai Cập đều nằm trong bản đồ đế quốc Ả Rập nên phương Đông chỉ còn lại ba trung tâm văn mình Ả Rập, Ấn Độ và Trung Quốc. Trong các nền văn minh ấy, văn minh Ấn Độ và Trung Quốc được phát triển liên tục trong tiến trình lịch thêm Phim Chiếu Rạp Tháng 7 2018 Hot Nhất, Lịch Phim Tháng 07/2018Ở phương Tây, thời cổ đại chỉ có nền văn minh Hy-La, đến thời trung đại cũng chỉ có một trung tâm văn minh mà chủ yếu là ở Tây Âu. Ngoài những nền văn minh ở lục địa Á, Âu, Phi, ở châu Mỹ trước khi bị người da trắng chinh phục, tại Mexico và Peru đã từng tồn tại nền văn minh của người Maya, Azteque và thời cận đại, do sự phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, nhiều nước phương Tây đã trở thành những quốc gia phát triển về mặt kinh tế và hùng mạnh về quân sự. Cùng với việc biến hầu hết các nước ở Á, Phi, Mỹ La Tinh thành thuộc địa của các cường quốc châu Âu, văn minh phương Tây đã truyền bá khắp thế giới.

so sánh nền văn minh phương đông và phương tây