suy dinh dưỡng thể phù
Triệu chứng khi bé bị nhiễm giun kim, giun đũa như bụng phình to lên, sụt cân, suy dinh dưỡng. Nếu được phát hiện sớm và tẩy giun kịp thời, tình trạng này vẫn có thể được cải thiện. Ngoài ra, cha mẹ cần lưu ý công tác phòng ngừa cho con. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, cứ mỗi 6 tháng, phụ huynh cần cho bé tẩy giun định kỳ.
Cách phát hiện trẻ bị suy dinh dưỡng: Để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số: + Cân nặng theo tuổi. + Chiều cao theo tuổi. + Cân nặng theo chiều cao. Đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng đánh giá cân nặng của trẻ theo độ tuổi. Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm trong sổ theo dõi sức khỏe trẻ em, cấp cho
Chào các mẹ mình đã viết 1 bài nói về nguyên nhân và lý do tại sao dẫn đến trẻ biếng ăn - suy dinh dưỡng những rất nhiều mẹ chưa hiểu vấn đề vẫn cứ hỏi làm thế nào, uống gì bổ sung, rồi điều trị như thế nào nên mình hôm nay sẽ nói rõ từng vấn đề 1 để các mẹ hình dung về mức độ và định
Thể phù là dấu hiệu của suy dinh dưỡng trầm trọng, có khả năng dẫn đến tử vong cao và cần được điều trị khẩn cấp. Với thể này, các bé sẽ có khuôn mặt bụ bẫm nhưng chân tay khẳng khiu, yếu ớt, rối loạn sắc tố da, thiếu máu, gan to Những dấu hiệu đầu tiên là phù mặt. mí mắt, chân tay rồi dần dần nặng hơn làm cả cơ thể bị phù thũng.
Thế giới có gần 2 tỉ người thừa cân mắc suy dinh dưỡng thể béo phì. Bệnh này là gì? Tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, cách khắc phục và phòng ngừa. Suy dinh dưỡng được định nghĩa là một chế độ dinh dưỡng không phù hợp do không được cung cấp đầy đủ, không
T heo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt dưỡng chất và năng lượng sản xuất so với nhu cầu cơ thể. Trên thế giới, tỷ lệ suy dinh dưỡng trong bệnh viện ở mức 20-50%. Tại Việt Nam, những nghiên cứu trong khoảng 10 năm nay vừa rồi cho con số cao hơn, khoảng 30-60%.
Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Suy dinh dưỡng thể phù Kwashiorkor là tình trạng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi nhất là dưới 3 tuổi gây nên hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, vận động, tâm thần và trí thông minh của trẻ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, hiện nay có hơn 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển. Trong đó, suy dinh dưỡng thể phù do thiêu protein là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ. Mời bạn đọc cùng Doctor có sẵn tìm hiểu về suy dinh dưỡng thể phù qua bài viết sau đây. Tóm tắt nội dung1 Suy dinh dưỡng thể phù là gì?2 Các triệu chứng thường gặp của suy dinh dưỡng thể phù3 Nguyên nhân của suy dinh dưỡng thể phù4 Phòng ngừa suy dinh dưỡng thể phù Suy dinh dưỡng thể phù Suy dinh dưỡng thể phù hay còn gọi là thể Kawashiorkor là tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng do ăn quá nhiều chất bột đường dẫn đến no giải tạo. Trẻ được nuôi dưỡng với chế độ khối lượng thức ăn tuy nhiều nhưng mất cân bằng nghiêm trọng về các dưỡng chất cụ thể là thừa chất glucid nhưng lại thiếu lipid và đặc biệt là thiếu protid nghiêm trọng. Do đó suy dinh dưỡng thể phù còn được gọi suy dinh dưỡng do thiếu protein. Suy dinh dưỡng thể phù là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em. Theo WHO 9/1980 mỗi năm tại các nước thuộc thế giới thứ ba bao gồm Châu Phi trừ Cộng hòa Nam Phi và Chây Mỹ La-tinh, có 10,4 triệu trẻ em dưới 11 tháng tuổi và 4,4 triệu trẻ em từ 1-4 tuổi bị tử vong mà lên đến 57% là do suy dinh dưỡng protein năng lượng , 43% là do bệnh nhiễm trùng mà chủ yếu là tiêu chảy, nghĩa là cứ mỗi phút có 25 trẻ dưới 5 tuổi bị chết do suy dinh dưỡng. Các triệu chứng thường gặp của suy dinh dưỡng thể phù Trẻ cần đến bác sĩ nếu như phát hiện các triệu chứng đã nêu Trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù có kiểu hình đặc trưng dễ nhận dạng do phù mắt cá chân, bàn chân, mặt và bụng. Ngoài ra trẻ còn có một số biểu hiện sau đây Khởi đầu phù ở mi mắt, mặt và hai chi dưới. Sau đó nếu nặng trẻ sẽ phù toàn thân kèm theo tràn dịch màng bụng hay màng tinh hoàn. Đặc điểm của phù là phù trắng, mềm, ấn lõm. Triệu chứng này dễ làm các bà mẹ lầm tưởng con mình mập và hoàn toàn khỏe mạnh. Phù do giảm đạm máu, giảm albumin trong máu làm giảm áp lực keo nên tăng thoát nước ra khoảng gian bào. Rối loạn sắc tố da thường gặp ở nếp gấp cổ, nách, háng, khuỷu tay, khuỷu chân, mông. Biểu hiện trên da là những chấm hay nốt tập trung thành từng mảng to nhỏ không đều màu đỏ, nâu hay đen. Đây là những vùng da có nhiều sắc tố melanin, dễ bị khô, hăm đỏ, lở loét. Thiếu máu Da xanh, niêm nhạt, suy thoái ở da, lông, tóc, móng… Còi xương, biểu hiện thiếu vitamin D, hạ canxi huyết. Biểu hiện thiếu vitamin A còi cọc, khô giác mạc, quáng gà, hay bệnh vặt. Triệu chứng bệnh ở các cơ quan Gan thoái hoá mỡ, suy tim, giảm tiêu hoá hấp thu. Chậm phát triển tâm thần, vận động. Ban đầu trẻ có thể chỉ xuất hiện những triệu chứng nhẹ, không rõ ràng, phù mặt, mí mắt, mu bàn chân và sau đó chuyên sang phù toàn thân. Nếu trẻ không được điều trị kịp thời thì lâu dần các cơ quan trong cơ thể cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí là tính mạng của bé. Tuy nhiên nếu cha mẹ chịu khó quan sát và để ý kỹ một chút sẽ thấy bé có vẻ “đầy đặn” nhưng không đều ở các vị trí khác nhau trên cơ thể. Đây là một trong những dấu hiệu chỉ điểm quan trọng và dễ nhận biết nhất. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng thể phù Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho trẻ trong 6 tháng đầu đời Nguyên nhân đầu tiên có thể kể đến và thường xảy ra nhất là tình trạng không nuôi con bằng sữa mẹ do nhiều lý do khác nhau. Mẹ có thể không đủ sữa hoặc thậm chí sợ ngực bị chảy xệ nên không cho con bú. Đôi với các nước thuộc thế giới thứ ba, do điều kiện kinh tế không đảm bảo nên sữa mẹ thường không đủ để nuôi trẻ nên suy dinh dưỡng thể phù xuất có tỷ lệ tử vong ở trẻ lên đến 57%. Tức là trong 100 trẻ bị tử vong do các nguyên nhân thì có đến 57 trẻ tử vong do suy dinh dưỡng thể Kawashiorkor. Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ có thể kể đến như Cha mẹ không biết cách chọn lựa thực phẩm đầy đủ dinh dưỡng cho con trẻ, quan niệm sai lầm rằng chỉ cần bụ bẫm, mũm mỉm là khỏe mạnh. Mẹ không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong quá trình mang thai cũng như sau khi sinh con, dẫn đến nguồn sữa không đủ để cung cấp cho con. Ngoài ra không thể không kể đến các nguyên nhân khách quan khác như gia đình thu nhập thấp, nhà xa chợ, thiên tai, gia đình đông con,… Phòng ngừa suy dinh dưỡng thể phù Phòng ngừa suy dinh dưỡng thể phù Để phòng ngừa suy dinh dưỡng một cách đúng đắn nhất, trẻ cần được chăm sóc dinh dưỡng hiệu quả ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Ở thời gian đó, mẹ cần được bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng và đi khám thai kỳ thường xuyên theo hướng dẫn của bác sĩ thường đều đặn vào mỗi tam cá nguyệt để đảm bảo trẻ được phát triển một cách toàn diện từ rất sớm. Thời điểm trẻ chào đời, trẻ cần được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu. Nếu mẹ không đủ khả năng cho sữa trong khoảng thời gian trên, có thể tham vấn ý kiến của bác sĩ nhi khoa để sử dụng sữa công thức nhằm giúp trẻ đảm bảo đủ dinh dưỡng trong khoảng thời gian trên. Tuy nhiên thành phần của sữa công thức chỉ được mô phòng theo cấu tạo của sữa mẹ, không giống hoàn toàn 100% nên vẫn không có tác dụng như sữa mẹ. Do đó việc sử dụng sữa công thức thay cho sữa mẹ là hoàn toàn không nên nếu mẹ vẫn có khả năng cho sữa. Sau khoảng thời gian 6 tháng, trẻ có thể được chuyển qua ăn dặm kết hợp với bú sữa mẹ để có đầy đủ dưỡng chất hơn, bởi giờ đây sữa mẹ có thể không đủ hoàn toàn cho sự phát triển của trẻ. Kế hoạch ăn dặm cho trẻ cần phải được chuẩn bị kĩ càng, đảm bảo cân đối đủ 4 nhóm thức ăn tinh bột, chất béo, chất đạm và rau quả cung cấp các vitamin vi lượng. Suy dinh dưỡng thể phù là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của trẻ ở các nước đang phát triển. Phần lớn là do trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ đầy đủ trong những năm tháng đầu đời, tuy nhiên không thể không kể đến những nguyên nhân khách quan khác ảnh hưởng như kinh tế, xã hội, chính trị. Do đó để giảm tình trạng suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ không chỉ cải thiện ý thức cá nhân mà còn cần sự phối hợp của cả cộng đồng, các cấp chính quyền. Xem thêm Xét nghiệm vi chất dinh dưỡng Bài viết được tham khảo từ bác sĩ và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch khám với bác sĩ có chuyên môn để điều trị. Để được tư vấn trực tiếp, bạn đọc vui lòng liên hệ hotline 1900 638 082 hoặc CHAT để được hướng dẫn đặt hẹn.
Trẻ gặp phải tình trạng suy dinh dưỡng độ 3 thể nặng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt thể chất, trí tuệ và nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời. Do đó, người chăm sóc trẻ cần nhận biết sớm đặc điểm của trẻ suy dinh dưỡng để kịp thời điều trị. 1. Phân loại suy dinh dưỡng theo cấp độ Thông thường, trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ có chỉ số cân nặng thấp hơn mức bình thường, nhưng nếu chỉ dựa vào chỉ số cân nặng để đánh giá trẻ đó có bị suy dinh dưỡng hay không thì lại không chính xác. 3 chỉ số đánh giá dinh dưỡng toàn diện gồm- Cân nặng theo Chiều cao theo Cân nặng theo chiều chỉ số trên sẽ được đem đi so sánh với bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡng của Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia NCHS được WHO Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo nên áp dụng cho trẻ ở những nước đang phát cách đánh giá và phân loại suy dinh dưỡng phổ biến nhất làPhân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO - 1981;Phân loại theo Waterlow 1976;Phân loại theo Welcome 1970.* Phân loại suy dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO - 1981WHO sử dụng các chỉ số cân nặng theo tuổi, dựa vào độ lệch chuẩn SD so với quần thể tham khảo tại Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia National Centre of Health Statistics để phân loại các mức độ suy dinh dưỡng khác nhauSuy dinh dưỡng độ 1 Cân nặng của trẻ dưới – 2SD đến – 3SD tương đương với mức cân nặng còn 70-80% so với mức bình dinh dưỡng độ 2 Cân nặng của trẻ dưới – 3SD đến – 4SD tương đương với mức cân nặng còn 60-70% so với mức bình dinh dưỡng độ 3 Cân nặng của trẻ dưới – 4SD tương đương với mức cân nặng còn dưới 60% so với mức bình phân loại theo WHO có ưu điểm nhanh, đơn giản, phổ biến và có thể áp dụng được với nhiều đối tượng nhưng lại có nhược điểm là không phân biệt được suy dinh dưỡng cấp tính hay mãn tính, và không nêu đủ các thể suy dinh dưỡng nặng.* Phân loại suy dinh dưỡng theo Waterlow 1976Phương pháp phân loại này sử dụng hai chỉ số về cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi để phân loại tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính hay suy dinh dưỡng mãn tính và suy dinh dưỡng trong quá khứ dựa theo bảng sau Theo bảng trên Gầy mòn là biểu hiện của tình trạng suy dinh dưỡng cấp; Còi cọc là biểu hiện của tình trạng suy dinh dưỡng trong quá khứ; Gầy mòn và còi cọc là biểu hiện của tình trạng suy dinh dưỡng mãn cộng đồng phương pháp này được sử dụng để bổ sung cho cách phân loại suy dinh dưỡng theo WHO nhưng lại không phân loại được các thể suy dinh dưỡng nặng và từng mức độ suy dinh dưỡng ở trẻ.* Phân loại suy dinh dưỡng theo Welcome 1970Phương pháp phân loại theo Welcome sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi và phương pháp này phù hợp để phân loại thể suy dinh dưỡng nặng. Suy dinh dưỡng thể Kwashiorkor Trẻ không được nuôi dưỡng nhưng lại trông bụ bẫm vì bị ứ nước ở chân và bàn dinh dưỡng thể Marasmus Loại suy dinh dưỡng xảy ra khi chất béo trong cơ thể và các mô bị thoái hóa với tốc độ nghiêm trọng để bù đắp cho sự thiếu hụt chất dinh dưỡng trong cơ thể. Điều này làm chậm hoạt động của hệ thống miễn dịch và các quá trình trao đổi chất trong cơ dinh dưỡng thể Marasmus-Kwashiorkor Đặc trưng bởi suy kiệt nghiêm trọng cũng như phù nề. Nguyên nhân do thiếu hụt cả protein và điểm của phương pháp phân loại này là tính tiện lợi, phân loại nhanh các thể suy dinh dưỡng nặng nhưng nhược điểm là chưa phân loại được suy dinh dưỡng nhẹ và vừa, suy dinh dưỡng cấp và mãn. 2. Chẩn đoán trẻ suy dinh dưỡng cấp độ 3 Để chẩn đoán một trẻ có bị suy dinh dưỡng cấp độ 3 hay không thì cần phải thông qua việc kiểm tra chỉ số chiều cao và cân nặng để so sánh với cân nặng và chiều cao lý tưởng của trẻ cùng lứa tuổi cộng với các dấu hiệu lâm sàng như sauMệt mỏiCáu gắtHệ thống miễn dịch kém làm tăng nhạy cảm với các bệnh nhiễm trùngDa khô và có vảyTrẻ chậm tăng trưởng, còi cọcBụng phình toThời gian phục hồi lâu hơn sau vết thương, nhiễm trùng và bệnh tậtGiảm khối lượng cơChậm phát triển hành vi và trí tuệSuy giảm chức năng tâm thần và các vấn đề tiêu hóaCác quy trình chẩn đoán kèm theo dấu hiệu lâm sàng gồmĐo đường kính giữa cánh tay trên Nếu chu vi của phần giữa cánh tay dưới 110 mm, đó là dấu hiệu rõ ràng của tình trạng suy dinh dưỡng ở con nghiệm máu Các xét nghiệm máu cụ thể như công thức máu, đường huyết, nồng độ protein trong máu hoặc albumin và các xét nghiệm máu thông thường khác có thể chẩn đoán tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ xét nghiệm khác Bác sĩ cũng chỉ định các xét nghiệm khác như xét nghiệm chức năng tuyến giáp, xét nghiệm xác định hàm lượng canxi, kẽm và vitamin,... vì chúng giúp xác định tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ. Chẩn đoán trẻ suy dinh dưỡng độ 3 Suy dinh dưỡng thể phù Kwashiorkor Nguyên nhânNguyên nhân chính của kwashiorkor là ăn không đủ protein hoặc các vitamin và khoáng chất thiết yếu khác. Nó phổ biến nhất ở các nước đang phát triển với nguồn cung cấp thực phẩm hạn chế, vệ sinh kém và thiếu giáo dục về tầm quan trọng của việc cung cấp cho trẻ sơ sinh và trẻ em một chế độ ăn uống đầy đủ. Ở các nước đang phát triển, kwashiorkor rất hiếm và là kết quả của chế độ ăn vặt quá nhiều, ăn kiêng lỗi mốt hoặc bệnh lý tiềm ẩn như chứngThờ ơ, mệt mỏi, cáu kỉnhMất khối lượng cơPhù trắng toàn thân, mềm, ấn lõm nguyên nhân do giảm lượng đạm trong máu, giảm albumin làm giảm áp lực keo dẫn đến tăng thoát nước ra khoảng gian bào. Phù nề chiếm 5–20% trọng lượng cơ nặng của trẻ < 60 - 80% so với cân nặng tiêu chuẩnGan to do thiếu máuSức đề kháng kém nên thường xuyên bị tiêu chảy và không thể điều trị dứt điểmTriệu chứng của thiếu máu như da, móng tay nhợt nhạtTâm thân và vận động chậm phát triểnCòi xương, hạ canxi huyếtTóc thưa, mỏng, hơi đỏ, đau và nứt miệng, tăng hoặc giảm sắc tố da kèm theo da bong tróc do thiếu năng thận kémMất cân bằng trao đổi chất và điện giảiXét nghiệm chẩn đoánPhân tích khí máu động mạchTổng mức proteinPhân tích nước tiểuKali huyết thanhThanh thải creatinineHuyết thanh creatinineNitơ urê máu BUNCông thức máu toàn bộ CBCBiến chứngHôn mêKhuyết tật vĩnh viễn về tinh thần và thể chấtSốc Suy dinh dưỡng độ 3 thể teo đét Suy dinh dưỡng độ 3 thể teo đét Marasmus Nguyên nhânCân bằng năng lượng tiêu cực gây ra tình trạng chậm chạp và điều này có thể do giảm năng lượng ăn vàoTăng mất calo ăn vào do nôn, tiêu chảy mãn tính, bỏng...Tăng tiêu hao năng lượngNhiễm trùng mà nguyên nhân do vi rút, vi khuẩn và ký sinh trùngTrẻ bú bìnhSự kết hợp của các yếu tố trênSuy dinh dưỡng thể teo đét thường gặp ở các nước chậm phát triển, các khu ổ chuột, vùng nông thôn đói hiệuNgoại hình teo tóp, gầy còm là cách trình bày cổ điển của sườn nhìn rõTăng trưởng chậm, mất nhiều mô mỡTiêu chảy mãn tínhTeo cơ, đặc biệt là ở bắp tay và môngNếp gấp da, khuôn mặt "ông già"Nhiệt độ cơ thể bất thường hạ thân nhiệt hoặc sốt oxy hóa Thiếu máu, mất nước thường xuyên khát nước và mắt teo lạiTổn thương giác mạc do thiếu vitamin ABiểu hiện ngoài daViêm tai giữa và viêm mũiSốc giảm thể tích dẫn đến mạch hướng tâm yếu, đầu chi lạnh và giảm ý thứcLiệt các chi dướiKiểm soát bàng quang và ruột yếuMáu hoặc chất nhầy trong phânNhiễm trùng, giảm cân, hôn mêNgất xỉu hoặc thay đổi nhận thứcNôn mửa liên tụcXét nghiệm chẩn đoánGiá trị đường huyết thấp hơn 3 mmol/ L là dấu hiệu của hạ đường huyếtNồng độ huyết sắc tố thấp hơn 40 g/ L là dấu hiệu của bệnh thiếu máu nặngKiểm tra lam máu bằng kính hiển vi Phát hiện ký sinh trùng là biểu hiện của nhiễm trùngGiá trị albumin thấp hơn 35 g/ L là dấu hiệu của suy giảm tổng hợp protein nghiêm trọngKiểm tra và cấy nước tiểuKiểm tra phân bằng kính hiển viĐiện giải đồ Hạ natri máu thể hiện rõ. Tuy nhiên, kết quả hiếm khi hữu ích và cũng có thể dẫn đến liệu pháp không phù xét nghiệm HIV không được thực hiện thường chứngMất thị lực vĩnh viễnSuy nội tạngDị tật khớp Thể hỗn hợp Marasmus - Kwashiorkor Suy dinh dưỡng thể phù sau khi điều trị phục hồi một phần và hết dấu hiệu phù thì sẽ trở thành teo đét nhưng gan vẫn thoái hóa điều trị bé suy dinh dưỡng độ 3, điều quan trọng đầu tiên là phải xác định được nguyên nhân gốc rễ. Khi nguyên nhân gốc rễ được xác định, bác sĩ sẽ đề xuất những thay đổi cụ thể đối với kế hoạch ăn kiêng để khắc phục tình trạng thiếu hoặc thừa dinh dưỡng. Nhiều tác động tiêu cực của suy dinh dưỡng có thể được điều chỉnh và đảo ngược nếu điều trị kịp thời. Bởi vậy, nếu phát hiện con có bất kỳ dấu hiệu nào của suy dinh dưỡng, cha mẹ nên đưa con đến ngay các cơ sở y tế để được khám và tư vấn cụ trẻ khỏe mạnh, phát triển tốt cần có một chế độ dinh dưỡng đảm bảo về số lượng và cân đối chất lượng. Nếu trẻ không được cung cấp các chất dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sẽ dẫn đến những bệnh thừa hoặc thiếu chất dinh dưỡng ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển toàn diện của trẻ cả về thể chất, tâm thần và vận mẹ nên bổ sung cho trẻ các sản phẩm hỗ trợ có chứa lysine, các vi khoáng chất và vitamin thiết yếu như kẽm, crom, selen, vitamin nhóm B giúp đáp ứng đầy đủ nhu cầu về dưỡng chất ở trẻ. Đồng thời các vitamin thiết yếu này còn hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường khả năng hấp thu dưỡng chất, giúp cải thiện tình trạng biếng ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng.
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Tiến sĩ, Bác sĩ Phan Nguyễn Thanh Bình - Trưởng khoa Dinh dưỡng - Tiết chế - Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Suy dinh dưỡng thể teo đét Marasmus là một trong những thể suy dinh dưỡng nặng ở trẻ em. Ở dạng suy dinh dưỡng này trẻ có cân nặng nhỏ hơn 60% hay giảm tới -4SD so với cân nặng bình thường của trẻ đồng tuổi. Trẻ bị gầy đét, trơ xương, da bọc xương, khuôn mặt như người già bởi không có lớp mỡ dưới da, bụng, mông và má. Biểu hiện ở trẻ bị suy dinh dưỡng thể teo đét khá rõ rệt. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng thể gầy teo đét. Trong đó có thể nhắc đến một số nguyên nhân chính như sauTrẻ không được nuôi bằng sữa mẹ, điều kiện nuôi thiếu thốn, phải bổ sung các chất khác thay vì sữa mẹ như nước cháo, bột loãng,... các chất, thức ăn ăn thay thế rất ít được bú mẹ nhưng từ tháng thứ 4 trở đi mẹ không bổ sung thêm cho trẻ bột, rau xanh, trái cây, chất béo và chất đạm bên ngoài. Hoặc có thể trẻ được bổ sung thêm chất ăn dặm khác nhưng bị thiếu chất béo cần thiết để cung cấp năng lượng quan trọng cho sự phát bị mắc các bệnh như sở, tiêu chảy,... không được điều trị dứt điểm, kết hợp với mẹ bắt trẻ kiêng ăn không đúng bị sốt kéo dài, tiêu hao năng lượng không được chăm sóc và bù đắp năng lượng thiếu hụt trong một thời gian dài. Trẻ bị sốt kéo dài là một trong số những nguyên nhân của suy dinh dưỡng. Các dấu hiệu lâm sàng cho thấy trẻ có nguy cơ, dấu hiệu của thể suy dinh dưỡng teo đét mà phụ huynh có thể nhận biết gồm cóTrẻ có triệu chứng của thiếu các loại vitamin A, B1, B12, D, K,... ở mức độ ban đầu nhẹ hơn thể dinh dưỡng thể teo đét không có triệu chứng gan to do thoái hóa mỡ, chức năng gan của trẻ ít bị ảnh ít bị đe dọa suy tim do mức độ thiếu đạm, thiếu máu, thiếu K+, thiếu B1 nhẹ hơn dấu hiệu của trẻ bị suy dinh dưỡng thể bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy có dấu hiệu mệt mỏi, thờ ơ với ngoại có thể thèm ăn hoặc chán ăn, có dấu hiệu ỉa phân sống, lỏng. 2. Hậu quả của suy dinh dưỡng thể teo đét Suy dinh dưỡng ở thể teo đét nói riêng và suy dinh dưỡng nói chung gây ra những hậu quả khó lường và nguy hiểm cho sự phát triển của trẻ. Trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ, trí lực, gầy thấp so với độ tuổi, nhận thức kém hơn so với bạn bè cùng tuổi. Tình trạng sẽ ảnh hưởng đến trẻ khi trưởng thành và có thể hình thành một số bệnh mãn tính trong quá trình phát triển và khi trưởng đó, theo nghiên cứu, thống kê trẻ bị suy dinh dưỡng thường hay mắc các bệnh về tiêu chảy, viêm phổi, gây ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển trí tuệ, hành vi và khả năng học hành của trẻ cũng như khả năng lao động và sức khỏe ở tuổi trưởng thể suy dinh dưỡng có thể gây ra các tổn thương bệnh lý và các rối loạn chuyển hóa thường gặp nhưGan thường có nguy cơ bị thoái hóa, ở thể suy dinh dưỡng teo đét, tổn thương ở gan hoàn toàn có thể được điều trị phục hồi kịp thời và đúng quan tiêu hóa của trẻ bị suy dinh dưỡng có thể bị tổn thương các tế bào tuyến tụy, niêm mạc ruột bị teo gây ra các tình trạng bệnh lý về tiêu hóa trong quá trình trưởng thành ở thống cơ tim mạch có thẻ bị teo, cung lượng tim giảm, các trường hợp nặng còn có dấu hiệu đầu chi lạnh, tím, mạch nhỏ khó bắt, khả năng tử vong cao, có thể phục hồi nhưng di chứng để lại khá nguy và hệ thống thần kinh bị ảnh hưởng, các chỉ số phát triển trí tuệ kém, bất thường so với trẻ bình thống miễn dịch của trẻ suy dinh dưỡng giảm sút đáng kể, tình trạng này làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn ở trẻ suy dinh rối loạn chuyển hóa như chuyển hóa glucid, lipid, protein, nước và điện giải sẽ xảy ra ở trẻ bị suy dinh dưỡng trong quá trình phát triển. Trẻ có triệu chứng của thiếu các loại vitamin A, B1, B12, D, K,... là dấu hiệu của suy dinh dưỡng. 3. Biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng thể teo đét Để trẻ có sự phát triển toàn diện, không bị suy dinh dưỡng, phụ huynh cần biết cách phòng chống và chăm sóc trẻ bằng các biện pháp sauChăm sóc dinh dưỡng và dinh dưỡng cho mà mẹ có thai và cho con con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ bú kéo dài đến 18 - 24 tháng tuổi, ít nhất là 12 tháng hiện ăn bổ sung hợp lý, đủ năng lượng, cân đối chất dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của bảo nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em tăng lên theo tháng bảo bổ sung đầy đủ vitamin A cho trẻ và bà mẹ sau hiện nuôi dưỡng đúng cách khi trẻ bị sóc vệ sinh, phòng chống giun sán cho hành lý tưởng về cách nuôi con trẻ khoa học, đúng phòng chống và cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ, cha mẹ nên bổ sung các sản phẩm hỗ trợ có chứa lysine, các vi khoáng chất và vitamin thiết yếu như kẽm, crom, selen, vitamin nhóm B giúp đáp ứng đầy đủ nhu cầu về dưỡng chất cho con. Đồng thời, các vitamin thiết yếu này còn hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường khả năng hấp thu dưỡng chất, giúp cải thiện tình trạng biếng ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng. Cha mẹ có thể cũng có thể áp dụng việc bổ sung chất qua đường ăn uống và các thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ tự nhiên để bé dễ hấp thụ. Điều quan trọng nhất là việc cải thiện triệu chứng cho bé phải diễn ra trong thời gian dài. Việc kết hợp nhiều loại thực phẩm chức năng cùng lúc hoặc thay đổi liên tục nhiều loại trong thời gian ngắn có thể khiến hệ tiêu hóa của bé không kịp thích nghi và hoàn toàn không tốt. Vì vậy, cha mẹ phải thực sự kiên trì đồng hành cùng con và thường xuyên truy cập website để cập nhật những thông tin chăm sóc cho bé hữu ích nhé. XEM THÊM Sự phát triển của trẻ sơ sinh trong năm đầu tiên Trẻ bị bệnh tay chân miệng kiêng ăn gì? Hướng dẫn chăm sóc trẻ sau khi cắt Amidan Bài viết này được viết cho người đọc tại Hà Nội. Dịch vụ từ Vinmec
Suy dinh dưỡng thể phù là tình trạng thường gặp ở trẻ em không được bú mẹ đầy đủ. Đây là một dạng suy dinh dưỡng cấp tính, xảy ra khi cơ thể trẻ không được cung cấp đủ hàm lượng protein cần thiết. Trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù cần được chăm sóc đúng cách để có thể phát triển một cách bình thường. Suy dinh dưỡng thể phù là một loại suy dinh dưỡng thường gặp ở trẻ em Suy dinh dưỡng thể phù là gì? Suy dinh dưỡng là hiện tượng cơ thể không được cung cấp đầy đủ các nhóm dưỡng chất cần thiết để có thể phát triển một cách tốt nhất. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, có khoảng 500 triệu trẻ em trên thế giới đang bị suy dinh dưỡng, thường gặp là trẻ em sống ở những đất nước đang phát triển. Suy dinh dưỡng thể phù hay còn được gọi là Kwashiorkor, là một trong hai dạng suy dinh dưỡng cơ bản ở trẻ em. Suy dinh dưỡng thể phù thuộc nhóm suy dinh dưỡng cấp tính, tình trạng này xảy ra khi cơ thể bị thiếu hụt protein nghiêm trọng. Trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng dễ bị suy dinh dưỡng thể phù, đặc biệt là những trẻ không được bú mẹ đầy đủ. Khi bị suy dinh dưỡng thể phù, cơ thể của trẻ sẽ bị tích nước và dẫn đến tình trạng sưng tấy, phù nề. Nếu tình trạng này được phát hiện sớm và điều trị đúng cách thì vẫn có thể phục hồi hoàn toàn. Mục đích của việc điều trị là bổ sung thêm calo và protein vào chế độ ăn uống hàng ngày của trẻ. Còn với những trường hợp không được phát hiện và xử lý kịp thời, suy dinh dưỡng thể phù sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ. Với những trường hợp nghiêm trọng có thể đe dọa đến tính mạng. Một số biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra do suy dinh dưỡng thể phù là hôn mê, sốc, tàn tật vĩnh viễn,… Theo thống kê y khoa, có khoảng 45% trường hợp trẻ em bị tử vong trên thế giới là do suy dinh dưỡng. Trong đó, suy dinh dưỡng thể phù là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ. Trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù nếu không được điều trị đúng cách sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển sau này Nguyên nhân gây suy dinh dưỡng thể phù Chuyên gia cho biết, hiện nay y khoa vẫn chưa xác định được nguyên nhân cụ thể gây ra tình trạng suy dinh dưỡng thể phù. Tuy nhiên, nguyên nhân chính gây ra thể suy dinh dưỡng này là do cơ thể bị thiếu hụt protein. Nhưng cũng có nhiều trường hợp tăng cường bổ sung protein vào trong khẩu phần ăn hàng ngày vẫn không cải thiện được tình trạng này Protein là thành phần dưỡng chất có trách nhiệm duy trì chất lỏng bên trong cơ thể. Khi cơ thể không được cung cấp đủ protein, chất lỏng sẽ di chuyển bất thường bên trong cơ thể, tích tụ tại mô và gây ra tình trạng mất cân bằng chất lỏng. Lúc này, cơ thể sẽ trở nên phù nề do trữ nước. Một số yếu tố làm gia tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ có thể kể đến là Trẻ không được bú sữa mẹ đầy đủ ở giai đoạn sơ sinh do mẹ không đủ sữa hoặc sữa mẹ không đảm bảo chất lượng. Trẻ sinh ra ở những quốc gia có điều kiện kinh tế kém phát triển với chế độ ăn uống chủ yếu là ngô, khoai, sắn,… Chế độ ăn uống của trẻ không phù hợp, không cân bằng các nhóm dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Mẹ không cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể trong giai đoạn thai kỳ hoặc sau khi sinh khiến chất lượng nguồn sữa không đảm bảo. Trẻ mắc bệnh lý di truyền hoặc bệnh lý nhiễm khuẩn ở giai đoạn sơ sinh nhưng không được điều trị và chăm sóc đúng cách. Suy dinh dưỡng thể phù cũng có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý tiềm ẩn như nhiễm khuẩn HIV, lao, nhiễm trùng máu,… Không được bú mẹ đầy đủ ở giai đoạn sơ sinh là nguyên nhân gây ra tình trạng suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ Dấu hiệu nhận biết suy dinh dưỡng thể phù Chuyên gia cho biết, hàm lượng chất béo bên trong cơ thể trẻ bị suy dinh dưỡng thường ở mức rất thấp nên sẽ có thể trạng ốm yếu và còi cọc. Nhưng với trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù thì lại khác, trẻ khá nặng cân và trông rất bụ bẩm. Nguyên nhân khiến trẻ trở nên bụ bẫm là do tích trữ chất lỏng bên trong cơ thể chứ không phải do tăng cơ hay tăng mỡ. Quan sát bên ngoài mẹ sẽ thấy, khuôn mặt trẻ rất tròn trịa nhưng tay chân lại khẳng khiu. Khi làm kiểm tra y khoa sẽ cho lại các kết quả như thiếu máu, gan to, phù phổi, thoái hóa mỡ hoặc đạm trong máu,… Khi tình trạng suy dinh dưỡng thể phù tiến triển sang giai đoạn nặng, trẻ sẽ đối mặt với các triệu chứng sau đây Sưng phù mặt, mí mắt và hai chân. Nhiều trường hợp còn bị phù nề toàn thân, tràn dịch màng bụng hoặc màng tinh hoàn. Rối loạn sắc tố da ở vùng da có nếp gấp như cổ, nách, háng, mông,… Lúc này, trên da sẽ xuất hiện các mảng hoặc nốt màu đỏ, đen, nâu,… khác với màu da của cơ thể. Cơ thể bị thiếu máu với các triệu chứng như da xanh xao, lông tóc và da suy yếu,… Trẻ bị còi xương với các triệu chứng như hạ canxi trong máu, thiếu vitamin D, thức giấc giữa đêm, co giật Trẻ bị thiếu vitamin A gây khô giác mạc, mắc bệnh quáng gà, khô giác mạc, còi cọc,… Gây tổn thương đến các cơ quan nội tạng bên trong cơ thể với các biểu hiện như suy tim, gan thoái hóa mỡ, kém hấp thụ dưỡng chất,… Trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù bị tích nước trong cơ thể gây phù nề Suy dinh dưỡng thể phù nguy hiểm không? Suy dinh dưỡng thể phù có thể điều trị khỏi nhưng vẫn ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ này. Khi trưởng thành, trẻ không thể đạt được tiềm năng chiều cao và tăng trưởng đầy đủ. Còn với trường hợp phát hiện muộn, trẻ có thể bị khuyết tật về thể chất và tinh thần vĩnh viễn. Khi tình trạng suy dinh dưỡng thể phù không được phát hiện và điều trị đúng cách sẽ khiến trẻ rơi vào trạng thái hôn mê và sốc. Nghiêm trọng hơn sẽ gây tổn thương đến các cơ quan nội tạng bên trong cơ thể, thậm chí là đe dọa đến tính mạng. Một số biến chứng có thể gặp khi trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù là gan to – phù, suy giảm hệ miễn dịch, suy giảm chức năng tế bào, nhiễm trùng đường tiết niệu, gặp vấn đề về tim mạch,… Phương pháp điều trị suy dinh dưỡng thể phù Nếu nghi ngờ trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù, mẹ nên đưa trẻ đến bệnh viện để làm kiểm tra. Lúc này, bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra thể chất và hỏi về chế độ ăn uống của trẻ. Sau đó, yêu cầu trẻ làm xét nghiệm máu và nước tiểu để đo dấu hiệu suy dinh dưỡng, xác định sự phân hủy cơ, kiểm tra chức năng thận,… Với những trường hợp cần thiết, bác sĩ sẽ yêu cầu xét nghiệm da để kiểm tra chức năng của hệ miễn dịch. Sau khi xác định trẻ bị suy dinh dưỡng thể phù, bác sĩ sẽ hướng dẫn mẹ cách điều trị và chăm sóc trẻ sao cho phù hợp. Thông thường, tình trạng suy dinh dưỡng thể phù sẽ được điều trị bằng cách tăng dần calo và hàm lượng protein trong chế độ ăn uống của trẻ. Nếu bổ sung dinh dưỡng quá nhanh và đột ngột sẽ gây ra một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Ngoài ra, bác sĩ sẽ kê đơn thêm một số loại vitamin tổng hợp để kích thích sự thèm ăn ở trẻ. Đưa trẻ đến gặp bác sĩ để được hướng dẫn điều trị khi bị suy dinh dưỡng thể phù Với những trường hợp nghiêm trọng thì nên nhập viện điều trị. Nếu trẻ không thể nuốt hoặc hấp thụ dưỡng chất thông qua chế độ ăn uống thông thường, bác sĩ sẽ chỉ định cho ăn bằng ống hoặc truyền qua đường tĩnh mạch. Biện pháp phòng ngừa suy dinh dưỡng thể phù Chế độ dinh dưỡng đầy đủ calo và protein là biện pháp phòng ngừa suy dinh dưỡng thể phù đơn giản và an toàn nhất. Chuyên gia dinh dưỡng cho biết, người bình thường sẽ tiêu thụ 10 – 35% lượng calo mỗi ngày đến từ protein, con số này sẽ thấp hơn ở trẻ em 5 – 20% và thanh thiếu niên 10 – 30%. Các loại thực phẩm giàu protein mẹ nên bổ sung vào trong thực đơn ăn uống của trẻ là hải sản, thịt nạc, các loại đậu, các loại hạt, trứng,… Bên cạnh đó, mẹ cũng cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng của bản thân trong giai đoạn thai kỳ. Lúc này, mẹ bầu cần ăn uống đầy đủ dưỡng chất để thai nhi có thể phát triển một cách tốt nhất trước khi chào đời. Nên khám thai định kỳ theo lịch hẹn để kiểm tra sự tăng trưởng của thai nhi. Sau khi trẻ chào đời, nên cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời. Sau 6 tháng, bên cạnh việc bú mẹ thì bạn cũng nên kết hợp cho trẻ ăn dặm để bổ sung thêm dưỡng chất. Thực đơn ăn dặm của trẻ cần phải có đủ 4 nhóm dưỡng chất là tinh bột, đạm, chất béo và vitamin. Với mẹ không có sữa hoặc ít sữa, mẹ cần cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành, không nên chỉ cho trẻ uống nước cháo loãng thay sữa. Cho trẻ ăn dặm để cung cấp thêm dưỡng chất cần thiết cho cơ thể Bài viết trên đây là những thông tin cần biết về tình trạng suy dinh dưỡng thể phù bạn có thể tham khảo để hiểu rõ hơn. Triệu chứng dễ nhất biết nhất khi bị suy dinh dưỡng thể phù là sưng mắt cá chân, sưng bàn chân và sưng bụng. Đây là dạng suy dinh dưỡng thường gặp ở trẻ em do ảnh hưởng từ chế độ ăn uống thiếu protein. Khi trẻ có các dấu hiệu suy dinh dưỡng thể phù, mẹ nên đưa trẻ đến gặp bác sĩ để được hướng dẫn điều trị đúng cách.
>PHÙ, NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ, CÁCH KHÁM PHÙ Phù là gì? Phù được định nghĩa là hiện tượng ứ nước ở khoang gian bào. Dịch phù chủ yếu tích ở tổ chức liên kết dưới da, nơi có tổ chức lỏng lẻo và áp lực tổ chức thấp. Nếu phù nặng thì dịch phù có cả ở các khoang rỗng của cơ thể. Như khoang phúc mạc tràn dịch màng bụng, khoang màng phổi tràn dịch màng phổi, khoang màng tinh hoàn tràn dịch màng tinh thoàn. Ngoài ra còn có phù phổi cấp dịch phù tràn vào các phế nang, phù não… Nếu căn cứ vào tính chất phù người ta chia ra hai loại phù là phù mềm và phù cứng. Phù mềm là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da để lại một vết lõm lâu phẳng sau khi ngừng ấn. Xung quanh vết lõm gờ lên làm vết lõm giống như chiếc nghiên mài mực nho, nên gọi là dấu hiệu lõm lọ mực. Phù mềm là do nước bị ứ lại ở dạng tự do trong khoang gian bào. Đây là loại phù hay gặp trong lâm sàng. Phù cứng là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da, không để lại vết lõm sau khi ngừng ấn. Phù cứng là do lượng nước ứ lại ở khoang gian bào không ở dạng tự do. Mà ở dạng liên kết với các thành phần của mô như liên kết với acid hyaluronic của tổ chức liên kết. Phù cứng gặp trong một số bệnh lý như phù do dị ứng, phù do nhược năng tuyến giáp phù niêm. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới phù mềm là loại phù hay gặp trong lâm sàng. + Nhìn sẽ thấy mi mắt mọng, mất các nếp gấp mi. Da vùng bị phù căng bóng, không còn nếp nhăn. Các chỗ bình thường có các hõm như hõm sau và trước mắt cá chân sẽ đầy và mất đi các hõm này. Bệnh nhân có cảm giác nặng nề ở nơi phù. + Khám ngoài da. Dùng ngón tay ấn vào các vùng da trên nền xương như. mặt trước trong xương chày, mắt cá chân, vùng cột sống thắt lưng, vùng xương cùng, vùng trán… Sau khi nhấc ngón tay ra sẽ để lại một vết lõm có bờ hơi gờ cao do nước bị dồn ra xung quanh tạo nên. Vết lõm lâu mới đầy trở lại. + Tốt nhất là theo dõi cân nặng của bệnh nhân. Theo dõi cân nặng vừa biết được lượng nước bị ứ lại vừa đánh giá được tiến triển của phù. Nếu trong 1 vài ngày thấy bệnh nhân tăng 1-2kg cân cùng thời điểm trong ngày, lúc đói kèm thêm các triệu chứng nghi ngờ phù thì cần đưa bệnh nhân đi khám để xác định có phù hay không và tìm nguyên nhân gây phù để điều trị. + Nếu phù toàn thân nặng cần khám xem có tràn dịch màng phổi không. Phát hiện bằng dấu hiệu 3 giảm ở đáy phổi, chụp X-quang phổi để phát hiện. Khám xác định có tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng tinh hoàn không. Nguyên nhân gây phù Phù toàn thân gặp trong các bệnh. bệnh thận viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư. suy thận cấp, suy thận mạn. bệnh tê phù thể ướt do thiếu vitamin B1. suy dinh dưỡng. nhiễm độc thai nghén. Phù khu trú phù ở ngực và hai tay phù áo khoác gặp trong hội chứng trung thất. Do tĩnh mạch chủ trên bị chèn ép. Phù hai chi dưới do suy tim phải hay suy tim toàn bộ. phù do xơ gan. phù trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén do tĩnh mạch chủ dưới bị thai chèn ép. Phù một chi thường phù một chi dưới do viêm tắc tĩnh mạch sâu, viêm mạch bạch huyết. Đặc điểm phù do các nguyên nhân khác nhau Căn cứ vào đặc điểm khác nhau của triệu chứng phù, người ta có thể sơ bộ dự đoán được nguyên nhân gây ra phù. + Nguyên nhân gây phù do các bệnh thận thì có đặc điểm – Ban đầu xuất hiện ở hai mi mắt. Sáng ngủ dậy thấy hai mi mắt mọng. Sau một vài ngày phù xuất hiện toàn thân. Dùng ngón tay ấn vùng da trước trong xương chày, mắt cá chân thấy để lại vết lõm lâu đầy. Da vùng phù căng bóng, mất các nếp nhăn. Các chỗ lõm tự nhiên trở nên đầy như lõm mặt sau, mặt trước mắt cá chân. Những vùng ở thấp thường phù nhiều như hai chân, vùng thắt lưng nếu bệnh nhân nằm ngửa nhiều. Nếu phù nặng hội chứng thận hư bệnh nhân có thể tăng 5-10kg so với khi chưa phù. Có thể có tràn dịch màng phổi. tràn dịch màng bụng bụng to bè, rốn đầy, gõ đục vùng thấp, dấu hiệu sóng vỗ dương tính. tràn dịch màng tinh hoàn bìu to, da bìu căng mọng, sờ thấy tinh hoàn bình thường bên trong. – Phù tăng về buổi sáng sau khi ngủ dậy, giảm về chiều. – Ăn mặn thì phù tăng nhanh, ăn nhạt thì phù giảm. – Bệnh nhân đi tiểu ít. – Có thể đau âm ỉ hai hố thắt lưng. – Xét nghiệm nước tiểu có protein niệu, hồng cầu niệu, trụ hình niệu. + Nguyên nhân gây phù do suy tim có đặc điểm. – Phù hai chi dưới. – Phù tăng về chiều và giảm về sáng sau ngủ dậy, được nghỉ ngơi thì phù giảm. – Bệnh nhân mệt, khó thở tăng khi vận động, giảm khi được nghỉ ngơi. Tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phản hồi gan-tĩnh mạch cổ dương tính. – Khám tim phát hiện các bệnh lý thực thể của tim như bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành. + Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng có đặc điểm. Bệnh nhân thiếu ăn lâu ngày, gầy, cơ teo, phù toàn thân nhưng nặng hơn ở hai chi dưới. Xét nghiệm protein máu và albumin máu giảm nặng. + Tê phù thể ướt Nguyên nhân gây phù do thiếu vitamin B1. Bệnh nhân ăn gạo ẩm mốc, gạo dự trữ lâu ngày, phù hai chi dưới. Tê bì và mất cảm giác hai chi dưới. Giảm hoặc mất phản xạ gân xương chi dưới do tổn thương thần kinh ngoại vi. Có thể có tim to, suy tim, nhịp tim nhanh. + Nguyên nhân gây phù do nhiễm độc thai nghén. Thường xuất hiện ở người có thai 3 tháng cuối, con so, phù toàn thân kèm tăng huyết áp, protein niệu dương tính, acid uric máu tăng. Cần phát hiện sớm và điều trị tích cực đề phòng sản giật. Cách khám một người bệnh phù. Sự ứ nước trong tổ chức dưới da thường làm cho. Những bệnh có cảm giác nặng nề. Những vùng bị sưng phù to, căng mọng, làm che lấp các chỗ lồi lõm bình thường mắt cá, nếp răn, đầu xương. Màu da vùng đó nhợt nhạt. Trong trường hợp kín đáo. Sự ứ nước có thể chưa nhiều để biểu hiện thành những triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Nhưng thường đủ để làm thay đổi cân nặng của người bệnh một cách nhanh chóng. Cho nên những trường hợp kín đáo, cần phải cân người bệnh hằng ngày. tăng lên 1 -2,5kg trong vài ngày chỉ nó để giải thích được bằng hiện tượng phù. Sau khi đã xác định được phù, muốn tìm nguyên nhân gây phù cần phải Nhận định kỹ tính chất phù. Phát hiện các triệu chứng kèm theo. Nhận định tính chất phù. Mức độ nhiều hay ít và tiến triển hình nhanh hay chậm Tốt nhất nên theo dõi cân nặng để được chính xác và cụ thể. Vị trí Phù toàn thân hay khu trú một vùng và xuất hiện đầu tiên ở đâu? Ấn lõm hay không? Sự liên quan với thời gian buổi sáng ngủ dậy thì không thấy phù, mà chỉ xuất hiện về chiều, phù do suy tim ở thời kỳ đầu hoặc với tư thế người bệnh phù xuất hiện khi đứng lâu phù tim trong thời kỳ đầu, phù tĩnh mạch. Tác dụng của chế độ ăn nhạt thường khá rõ rệt trong phù do suy tim, do xơ gan và nhất là trong phù do viêm cầu thận cấp. Phát hiện các triệu chứng kèm theo phù Phản ứng mức độ nước Tình trạng các màng phổi màng bụng Thường có tràn dịch trong các trường hợp phù to, nước dịch có thể trong hoặc hơi vàng chanh nhưng bao giờ cũng có ít protein và Rivalta - vì là dịch thấm. Số lượng nước tiểu thải tiết trong 24 giờ nói chung tất cả các trường hợp phù trừ phù do viêm tĩnh mạch và phù do bệnh bạch mạch đều làm cho người bệnh đái ít. Mức độ giảm số lượng nước tiểu thường tỷ lệ với tình trạng phù, phù càng nhiều, người bệnh càng đái ít. Phù trên hệ tuần hoàn có chỉ điểm Tuần hoàn bàng hệ Ở ngực chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ tỉnh mạch chủ trên, thường có trong hội chứng trung thất; ở hạ sườn phải và thượng vị chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ thống cửa chủ, thường có trong phù xơ gan. ở bẹn và hạ vị chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ dưới, thường có trong các trường hợp tắc hoặc chèn ép các tĩnh mạch chi dưới. Xanh tím Ở môi, ở mặt, chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ trên hoặc tuần hoàn hoàn lớn, hoặc ở các chi tương ứng với tĩnh mạch có bệnh. Gan to mềm, tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ + Chỉ điểm cho phù do suy tim phải. Khó thở Nhiều hoặc ít, thường có trong phù do suy tim. Chỉ điểm cho một viêm nhiễm địa phương Tình trạng nóng, đỏ, đau ở vùng đó. Sưng các hạch tương ứng với vùng đó. Sốt nhiều hoặc ít. Chẩn đoán phù Chẩn đoán xác định Thường không khó khăn trong trường hợp rõ ràng và cả trong các trường hợp kín đáo căn cứ vào các biểu hiện hoặc các biện pháp đãn nêu ở trên. Những vấn đề chủ yếu và quan trọng trong chẩn đoán phù là tìm ra nguyên nhân. Nguyên nhân gây ra phù có thể do Ứ trệ tuần hoàn Suy tim. Chèn ép tĩnh mạch hoặc tắc tĩnh mạch. Hạ tỷ lệ protein ở huyết tương Làm thay đổi áp lực thẩm thấu, nước dễ thoát ra ngoài huyết quản, như phù trongThận nhiễm mỡ. Thiếu dinh dưỡng. Xơ gan. Ứ NaCl Ba yếu tố nói trên thường có thể kết hợp với nhau và đều là những yếu tố tiên phát. Nhưng dần dần, sau một thời gian, thường có thêm một yếu tố hậu phát, đó là Cường adosteron hậu phát Ví dụ trong suy tim, thận nhiễm mỡ, xơ gan. Yếu tố này thường củng cố thêm hiện tượng phù, làm cho việc điều trị thêm khó khăn. Ngoài 4 yếu tố thường chi phối một số lớn các trường hợp phù nói trên, còn có trường hợp nguyên nhân gây phù do Tổn thương các thành bạch mạch hoặc tĩnh mạch Đấy là các trường hợp phù do Viêm tĩnh mạch. Viêm hạch mạch. Dị ứng. Các biểu hiện phù trong nguyên nhân nói trên thường thể hiện dưới hai hình thái lâm sàng giúp cho ta hướng chẩn đoán nguyên nhân Phù toàn thân và Phù khu trú từng vùng. Chẩn đoán nguyên nhân gây phù 1. Nguyên nhân gây phù toàn thân Nghĩa là phù cả mặt, thân, chân tay và thường kèm thêm cả tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng. Nguyên nhân gây phù toàn thân thông thường nhất là các bệnh thận. Trong đó chủ yếu là Thận nhiễm mỡ. Viêm cầu thận cấp, bán cấp, hoặc kính. Tính chất chung của một phù thận là Bao giờ cũng xuất hiện đầu tiên của mi mắt, ở mặt, rồi mới đến các nơi khác. Không có liên quan với thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh dù sao nếu người bệnh phải nằm lâu, phù thường nhất ở vùng lưng, mặt sau đùi, tuy các vùng khác vẫn phù. Phù trắng, mềm, ấn lõm. Bao giờ ở nước tiểu cũng có protein; mức độ nhiều ít có thể khác nhau tùy theo loại bệnh thận. Ngoài những tính chất chung đó của phù thận, bệnh nhân nhiễm mỡ và viêm cầu thận có một số yếu tố khác nhau về lâm sàng và cận lâm sàng, mà chúng tôi trình bày trong bảng dưới đây để căn cứ vào đó, chúng ta có thễ phát hiện được. Ngoài nguyên nhân gây phù thông thường nhất nói trên, phù toàn thân còn có thể gặp trong Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng Chủ yếu phù chi dưới, nhưng cũng có khi phù cả mặt, thân và tay. Cũng không có liên quan đến thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh. Cũng mềm và ấn lõm. Nhưng không bao giờ có protein ở nước tiểu, xác định bằng protein máu giảm. Phát hiện được bệnh tiên phát gây suy dinh dưỡng, thông thường nhất là các bệnh đường ruột mạn tính, các nhiễm khuẩn mạn tính lao hoặc các bệnh ác tính ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hoá. Nguyên nhân gây phù do nội tiết Được đề cập đến những năm gần đây Phù có thể ở chi dưới và cả ở mặt, nhưng rất kín đáo Người bệnh cảm thấy mặt hơi nặng và ấn hơi lõm, phải theo dõi cẩn thận mới biết chắc là phù. Thường xảy ra ở phụ nữ và có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. 2. Nguyên nhân gây phù khu trú Phù ngực Phù “áo khoác”, triệu chứng cổ điển của triệu chứng trung thất. Phù hai chi dưới Nhiều bệnh có thể gây ra phù hai chi dưới. Nguyên nhân gây phù do suy tim phải Lúc đầu ít và kín đáo, chỉ có ở mắt cá chân; và chỉ xuất hiện về chiều, sau khi người bệnh đứnglâu, và mất đi lúc sáng sớm khi người bệnh ngủ dậy, về sau phù sẽ thường xuyên và rõ rệt. Chế độ nghĩ ngơi, chế độ ăn nhạt có thể làm bớt phù. Phù mềm, ấn lõm. Bao giờ cũng kèm theo gan to, mềm, tức, có tính chất gan đàn xếp, tĩnh mạch cổ nổi hoặc phản hồi gan tĩnh mạch cổ + và khó thở ít hoặc nhiều. Nếu suy tim phải kéo dài hoặc không hồi phục, có thể xuất hiện thêm cổ trướng thẩm thấu. Nguyên nhân gây phù do xơ gan Mức độ có thể nhiều họăc ít, ấn lõm. Ăn nhạt có thể bớt phù. Thường kèm theo cổn trướng thẩm thấu và tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ bằng soi ổ bụng và sinh thiết gan, nếu nghi ngờ. Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng đã nói ở trên Phù do bệnh tê phù ướt bêribêri Chủ yếu ở bắp chân, làm bắp chân người bệnh căng, to. Có thể ấn lõm. Không có liên quan với thời gian, với tư thế người bệnh cũng như với chế độ ăn nhạt. Bao giờ cũng kèm theo rối loạn cảm giác chủ quan tê bí, kiến bò, chuột rút và mất phản xạ gân gối. Nguyên nhân gây phù do thai nghén Ở những sản phụ trong những tháng cuối của thời kỳ có thai. 3. Nguyên nhân gây phù một chi Thông thường nhất ở một chi dưới. Cần chú ý đến hai trường hợp Nguyên nhân gây phù một chi do viêm tắc tĩnh mạch phù tĩnh mạch Phù mềm, ấn không lõm, trắng nhưng rất đau đau tự phát lâu ngày làm người bệnh không dám cử động chân, đau càng tăng lên khi sờ nắn chi, nhất là đoạn chi gần chỗ viêm tắc. Nằm nghỉ và nhất là gác chân lên cao, sẽ làm giảm bớt kèm theo sốt và mạch nhanh, nhưng không tương xứng vì sốt ít. Nguyên nhân gây phù một chi do viêm mạch bạch huyết Lúc đầu cũng giống như phù trong phù tỉnh mạch. Mềm, ấn không lõm, trắng nhưng cũng rất đau nhưng không nổi rõ đường đi của mạch bạch huyết thành những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng với các mạch đó sưng to và đau. Về sau các tổn thương đã ổn định, các tổ chức dưới da và da trở nên rất dày và cứng đấy là” phù chân voi”, di chứng của viêm bạch mạch. Cần tìm nguyên nhân thông thường nhất ở nước ta là giun chỉ. Nguyên nhân gây phù một chi do dị ứng Thường xuất hiện đột ngột ở xung quanh mắt, mồm và thường mất đi rất nhanh. Nguyên nhân gây phù, phù hay gặp trong bệnh gì?
Thông thường hình ảnh định vị trong tâm trí chúng ta về suy dinh dưỡng ở trẻ là những thân hình gầy quắt, teo héo, thiếu cân nặng… Nhưng sự thật, suy dinh dưỡng trẻ em tồn tại nhiều cấp độ khác nhau. Đặc biệt suy dinh dưỡng nặng được biểu hiện ở 3 thể thể phù, thể teo đét và thể phối hợp. Trong đó thể phù Kwashiorkor thường ít khi được gia đình phát hiện vì trông bề ngoài, bé vẫn mập mạp, khỏe mạnh. Biểu hiện của suy dinh dưỡng thể phù Chúng ta cần nhớ rằng suy dinh dưỡng trẻ em bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là Marasmus và Kwashiorkor – thể phù Khi mắc chứng suy dinh dưỡng thể phù, mặt bệnh nhân tròn trịa nhưng chân tay khẳng khiu, trương lực cơ yếu, rối loạn sắc tố da, thiếu máu, gan to và thoái hóa mỡ, phù, giảm đạm máu. Đầu tiên là những dấu hiệu phù mặt, mí mắt, chân tay… rồi dần tiến đến phù thũng toàn thân, tràn dịch màng bụng, màng tinh hoàn… Ngoài ra, tùy mức độ, thời gian và thời điểm xảy ra suy dinh dưỡng thể phù mà mắt, xương, gan, tim, ruột, tụy, não, răng, tóc… đều có thể bị ảnh hưởng. Ban đầu bệnh không có nhiều biểu hiện trầm trọng nhưng nguy hiểm do điều trị khó và tỷ lệ tử vong cao Nguyên nhân gây bệnh Do hoàn cảnh gia đình, một số phụ huynh không có điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ hoặc sợ chảy xệ ngực khi cho bé bú nên chỉ sử dụng sữa công thức, nước cháo pha sữa, bột dinh dưỡng… hoặc để bé kiêng khem quá mức khi mắc bệnh. Có thể là nguyên nhân bệnh lý Do trẻ mắc phải những chứng bệnh di truyền hoặc nhiễm khuẩn sơ sinh kết hợp với chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý khẩu phần ăn của bé thường không được cung cấp đủ chất đạm nhưng vẫn nhận đủ hoặc gần đủ năng lượng từ chất bột đường hay chất béo, sử dụng những loại sữa không phù hợp với thể trạng của bé. Phòng suy dinh dưỡng thể phù Để phòng suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ, cần chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ. Trong thời gian mang thai người mẹ cần ăn uống bồi dưỡng hơn bình thường đồng thời theo dõi tăng cân từng quý; khám thai định kỳ ít nhất 3 lần. Khi bé chào đời Nuôi con bằng sữa mẹ là cách tốt nhất để phòng ngừa suy dinh dưỡng ở trẻ em nói chung và suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ nhỏ nói riêng. Trẻ cần được bú mẹ cho đến 2 tuổi. Cho bé ăn bột khi đã đủ tuổi ăn dặm sau 6 tháng tuổi, không nên cho trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi dùng sữa bột nguyên kem vì loại sữa này dù nhiều protein nhưng dễ gây tổn thương niêm mạc ruột. Cẩn thận theo dõi, nếu có các biểu hiện của bệnh suy dinh dưỡng như trẻ biếng ăn, rối loạn tiêu hóa…cần đưa trẻ đi khám và thực hiện các quy trình điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ. Chế độ ăn dặm phải cân đối với đủ 4 nhóm thức ăn tinh bột, chất béo, chất đạm và rau quả tươi. Trong trường hợp mẹ không có sữa hoặc ít sữa thì cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành, tuyệt đối không dùng nước cháo đơn thuần để nuôi trẻ. Theo dõi cân nặng cho bé bằng cách mỗi tháng cân trẻ một lần, trẻ từ 2 - 5 tuổi thì 2 - 3 tháng cân một lần, để ý những dấu hiệu trên cơ thể bé, đặc biệt là khi bé tăng cân một cách bất thường. Khám sức khỏe định kỳ và tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng để cân đối lại chế độ ăn hợp lý cho bé. Bổ sung dưỡng chất từ nguồn bên ngoài Đối với trẻ nhỏ, bên cạnh sữa mẹ và chế độ ăn uống hợp lý thì nguồn dinh dưỡng từ sữa công thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển trí não và hấp thu dưỡng chất một cách tốt nhất. Vậy, nguồn dinh dưỡng nào sẽ phù hợp với trẻ mắc bệnh suy dinh dưỡng và giúp trẻ tăng cân khỏe mạnh, nâng cao sức đề kháng? Chuyên Gia Dinh Dưỡng - NutiFood
suy dinh dưỡng thể phù